Vì sao Trung Quốc e ngại TPP?

Năm 2015 có lẽ không phải là một năm quá khởi sắc của nền kinh tế thế giới, khi tốc độ tăng trưởng trung bình của các nền kinh tế trên thế giới tính đến thời điểm hiện tại không nhỉnh hơn năm 2014 là bao.

Vì sao Trung Quốc e ngại TPP?

Shares

Nhưng nó vẫn có những điểm sáng, mà một trong số đó là việc hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP đã được hoàn tất, mở ra một khu vực thương mại có quy mô lớn nhất thế giới, chiếm 40% tổng giá trị nền kinh tế toàn cầu. Nó được xem là hiệp định kinh tế quan trọng nhất thế giới trong nửa đầu thế kỷ 21. Nhưng sự kiện đáng mừng ấy lại trở thành tin xấu, ít nhất là với một quốc gia, đó là Trung Quốc.

Việc TPP gạch tên Trung Quốc, nền kinh tế lớn nhất thế giới dựa trên sức mua tương đương, ra khỏi danh sách các quốc gia nằm ở hai bờ Thái Bình Dương tham gia vào hiệp định được xem như một chỉ dấu dứt khoát cho việc khu vực thương mại mới được thiết lập không chào đón đất nước hơn 1 tỷ dân này. Ai cũng hiểu rằng Mỹ, quốc gia có vị thế và tiếng nói quan trọng nhất trong số các thành viên TPP muốn sử dụng hiệp định này để làm giảm ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc trong khu vực và trên thế giới.

Nhưng vấn đề được đặt ra là, nếu Mỹ muốn giảm ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc, lẽ ra Washington nên thiết lập một hiệp định xuyên Đại Tây Dương mới đúng. Các đối tác thương mại quan trọng nhất của Trung Quốc đều nằm ở phía Tây, như Mỹ và các quốc gia EU mà điển hình là Đức. Đức thậm chí còn hợp tác với Trung Quốc trong dự án xây dựng tuyến đường sắt xuyên Á Âu để vận chuyển hàng hóa từ phía Tây Trung Quốc kết nối thẳng đến Đức thông qua Nga và các nước Đông Âu.

Câu trả lời cho việc Mỹ thiết lập hiệp định xuyên Thái Bình Dương thay vì Đại Tây Dương nằm ở chỗ, Washington muốn đánh vào điểm yếu nhất trong hệ thống kinh tế và thương mại của Trung Quốc, đó là các quốc gia Đông Nam Á. Nếu nhìn thoáng qua mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN thì có vẻ như mọi chuyện không như vậy.

Trung Quốc đang là đối tác thương mại lớn nhất hoặc cùng lắm là lớn thứ hai với hầu hết các nước ASEAN, ngoại trừ Brunei. Trung Quốc đã vượt mặt Mỹ và Nhật để đóng vai trò là thị trường xuất và nhập khẩu lớn nhất với các quốc gia Đông Nam Á. Điều này thậm chí còn đang đi kèm với sự gia tăng những ảnh hưởng về chính trị, khi mà ở các nước ASEAN ngày càng có nhiều tiếng nói ủng hộ việc thiết lập mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc bất chấp những xung đột về chính trị hay lãnh thổ.

Mà điển hình là việc ứng cử viên tổng thống Philippines là Jejomar C. Binay trong một cuộc phỏng vấn đầu năm nay đã viện dẫn tầm quan trọng về kinh tế của Trung Quốc với Philippines để biện minh cho việc ông này ủng hộ một cách tiếp cận nhẹ nhàng hơn trong tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc trên biển Đông.

Nhưng, nếu nhìn sâu hơn vào vấn đề, thì tình hình lại hoàn toàn khác. Việc Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất hoặc thứ hai với hầu hết các nước Đông Nam Á không che khuất được một thực tế rằng: ASEAN là khu vực gần như ít được Trung Quốc đầu tư nhất trên thị trường toàn cầu. Tới cuối năm 2012, Trung Quốc chỉ đứng thứ 7 trong việc cung cấp FDI cho các nước Đông Nam Á, chỉ tính riêng lượng FDI của một mình Malaysia cho các nước ASEAN đã gấp rưỡi so với Trung Quốc.

Khoảng cách càng được nới rộng với các nước như Nhật Bản hay Mỹ, lượng FDI của Nhật và Mỹ vào các nước ASEAN gấp 5 lần Trung Quốc; lượng tiền mà Nhật Bản đầu tư vào một mình Thái Lan đã nhiều gấp đôi lượng tiền mà Trung Quốc đầu tư vào 10 nước Đông Nam Á. Đến năm 2014, Trung Quốc mới leo lên vị trí thứ 6 trong danh sách các nước cung cấp FDI cho ASEAN nhưng khoảng cách với Nhật Bản hay Mỹ vẫn còn rất xa.



Một thực tế là dù Trung Quốc đang tăng cường đầu tư ra nước ngoài rất mạnh trong những năm qua, thì phần lớn trong số đó lại né tránh các nước Đông Nam Á. Tính đến năm 2012, các nước ASEAN chỉ nhận được 1/16 vốn đầu tư nước ngoài từ Trung Quốc, trong khi con số này với Đài Loan là 1/2 và Nhật Bản là 1/7.

Điều này dẫn đến một thực tế là, hầu hết các hoạt động sản xuất hàng hóa ở các quốc gia Đông Nam Á đều không thuộc quyền kiểm soát của các doanh nghiệp Trung Quốc, mà thuộc về Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và các quốc gia châu Âu. Trong bối cảnh kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh và nhu cầu tiêu dùng cao, dòng hàng xuất khẩu từ các nước ASEAN này được hướng về Trung Quốc. Nhưng khi mà Trung Quốc tăng trưởng chậm lại và TPP được hoàn tất, thì tất nhiên dòng hàng xuất khẩu từ các nước ASEAN sẽ tuôn chảy về Mỹ, Nhật Bản, Canada và Úc.

Trung Quốc khi đó sẽ không còn là đối tác thương mại quan trọng nhất với các nước ASEAN nữa, và vị thế chính trị cũng sẽ từ đó mà suy giảm. Trung Quốc đang phải trả giá cho việc quá chú trọng đầu tư vào các thị trường lớn như châu Âu mà bỏ qua các nước láng giềng trong khu vực. Và nếu như trong thời gian tới những quốc gia còn lại như Thái Lan hay thậm chí là Hàn Quốc gia nhập TPP, thì đó sẽ là cơn ác mộng thực sự với Bắc Kinh.

Sự e ngại của Trung Quốc với hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương này không dừng lại ở đó. Thậm chí, kể cả khi Mỹ và các nước thành viên TPP khác chấp nhận cho Trung Quốc gia nhập, như thủ tướng Nhật Shinzo Abe mới đây đã đề xuất trong một bài phát biểu, thì có cho vàng Bắc Kinh cũng không dám. Vì các quy tắc chủ yếu trong TPP đều được thiết kế để có thể gây ra những thiệt hại lớn cho kinh tế Trung Quốc nếu nước này gia nhập.

Các quy định về luật lao động, về bảo vệ môi trường, về chống phá giá hay hỗ trợ doanh nghiệp thiếu công bằng của TPP là một cơn ác mộng thực sự với nền kinh tế Trung Quốc vốn vẫn đang tràn ngập các vấn đề trên. Gia nhập TPP vì thế cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Trung Quốc sẽ bị đè bẹp, Bắc Kinh sẽ phải điều chỉnh luật lao động và đặc biệt là vấn đề môi trường có thể khiến hàng loạt công ty và thậm chí là các tập đoàn công nghiệp lớn của Trung Quốc sụp đổ.

Có lẽ Bắc Kinh cũng hiểu điều này, nên không mặn mà gì với việc xin gia nhập, mà thay vào đó tìm cách thiết lập một khu vực thương mại tương tự như TPP để giành lại ảnh hưởng, nhưng bị đánh giá là khó khăn hơn TPP rất nhiều. Việc thiết lập một khu vực thương mại khổng lồ như TPP với hàng loạt các quốc gia thành viên là một việc không hề dễ dàng, nước Mỹ với sức hút khổng lồ từ thị trường nội địa cũng đã phải rất chật vật mới hoàn tất được quá trình đàm phán, thì mọi sự sẽ còn khó khăn hơn rất nhiều với Trung Quốc.

Bản thân Trung Quốc cũng đang hướng đến mô hình tăng trưởng dựa trên tiêu thụ nội địa tương tự như Nhật Bản, đồng nghĩa với việc mở cửa nền kinh tế cho các doanh nghiệp nước ngoài một cách giới hạn, nên sức hút thị trường vốn là đòn bẩy chủ đạo để thiết lập một khu vực thương mại của Trung Quốc sẽ sụt giảm hẳn trong việc hấp dẫn các quốc gia mà Bắc Kinh muốn mời gọi.

(theo BusinessWorld)

Shares

59 queries in 5.048 seconds.