Tại sao Liên-xô lại đưa quân vào Afganistan?

Những bức điện tín mới được công bố nhấn mạnh mối lo sợ của Moscow rằng Afganistan có thể sẽ ngả sang phương Tây

Một ngày của tháng 10 năm 1979, một nhà ngoại giao người Mỹ tên là Archer K. Blood được tổng thống mới của Afganistan triệu tập đến trụ sở của chính phủ Afghanistan. Vị tiền nhiệm bị lật đổ của vị tổng thống mới này vừa mới bị gây ngạt cho đến chết bằng gối (nguyên văn: “whose ousted predecessor had just been smothered to death with a pillow”).
Trong khi chính phủ Kabul vẫn là khách hàng của Liên Xô, thì tổng thống mới (của Afghanistan), là Hafizullah Amin (1929 – 27/12/1979), lại có một suy nghĩ khác nào đó trong tâm trí. “Tôi nghĩ rằng ông ấy muốn có một sự cải thiện trong quan hệ Mỹ – Afghanistan”, ông Mr. Blood đã viết như vậy trong một bức điện tín gửi về Washington. Ông nói thêm rằng ông Amin có thể muốn có một cái chêm, một vùng đệm trong dài hạn nhằm chống lại sự phụ thuộc quá mức vào Liên-xô (nguyên văn: “a long-range hedge against over-dependence on the Soviet Union”).
Bức điện tín của ông Blood mới được công bố gần đây đã làm sáng tỏ những gì mà đã thực sự thúc đẩy Liên Xô đưa quân vào Afghanistan chỉ hai tháng sau cuộc gặp gỡ này (của ông Blood) với ông Hafizullah Amin. Xin phép cầm đèn chạy trước ô-tô một tí (nguyên văn: “spoiler alert”): Không phải vì lý do khủng bố như Tổng thống Trump đã tuyên bố hồi tháng trước, người mà đã nói rằng Liên Xô đã hành động đúng khi đổ quân xâm lược Afghanistan. Bức điện tín này và các tài liệu khác cho thấy rằng một trong số các động lực thực sự (của việc Liên Xô đổ quân vào Afghanistan) là nỗi lo sợ rằng Afghanistan có thể ngả sang phương Tây.
Đây là một thời điểm quan trọng khiến Liên Xô càng ngày càng có cảm giác rằng họ bị đe dọa (bởi việc Afghanistan có thể ngả sang phương Tây), ông Thomas S. Blanton đã nói như vậy. Ông này là giám đốc Lưu trữ An ninh Quốc gia, một tổ chức nghiên cứu tại Đại học George Washington, người mà gần đây đã có được bức điện tín ấy nhờ vào Đạo luật Tự do Thông tin và, vào hôm thứ Ba, đã đăng tải nó (bức điện tín này) lên mạng. “Đây là một trường hợp nghiên cứu hấp dẫn về sự thể rằng, trong tất cả các vấn đề quan hệ quốc tế, cần phải đặt mình vào cương vị, hoàn cảnh của người khác – để xem xem tình hình ở đó như thế nào?”
Nhưng nguồn cơn, nguyên do của việc Liên-xô đưa quân vào xâm lược Afghanistan đã nêu lên những bài học cho ông Trump, một người đang bị lịch sử thách thức khi ông đàm phán để chấm dứt cuộc chiến tranh của chính Hoa Kỳ tại Afghanistan, cuộc chiến tranh mà năm nay đã bước sang năm thứ 17.
Afghanistan – đó là một vùng đất khô cằn nhưng lại có vẻ đẹp ngoạn mục và một sự tàn bạo không thể tưởng tượng được, bị chia cắt bởi những sự khác biệt về tôn giáo, sắc tộc và bộ lạc và bị mắc kẹt trong một hiện thực gần như đang ở thời trung cổ. Afghanistan nằm ở trung tâm của nhiều cuộc cạnh tranh địa chính trị trong thời gian nhiều thế kỷ – và là một ưu tiên cao trong danh sách những ưu tiên của Mỹ kể từ khi Liên-xô đổ quân xâm lược Afghanistan từ hồi tháng 12 năm 1979.
Sự can thiệp đó đã phá vỡ mối quan hệ giữa các siêu cường khi Tổng thống Jimmy Carter (nhiệm kỳ 1977 – 1981) đình chỉ việc bán ngũ cốc cho Liên-xô và tẩy chay Thế vận hội Olympic Moscow 1980. Ông (Jimmy Carter) cũng bắt đầu một sự tăng cường quân sự, điều mà sau này đó được gia tăng bởi Tổng thống Ronald Reagan, và sự hỗ trợ của Mỹ đối với phiến quân thánh chiến (nguyên văn: “mujahedeen rebels”) đã giúp khiến cho những người Xô-viết phải ôm đầu máu tháo chạy khỏi (Afghanistan) vào năm 1989 (một sự trùng hợp kỳ lạ, VN cũng rút quân khỏi Cambodia vào năm này – người dịch).
Tuy nhiên, sau đó, một số đồng minh của Hoa Kỳ trong cuộc chiến này đã trở cờ và Afghanistan trở thành thiên đường đối với các lực lượng Al Qaeda của Osama bin Laden. Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, sau các cuộc tấn công khủng bố tại New York, Washington và Pennsylvania, Tổng thống George W. Bush đã điều binh khiển tướng lật đổ chính quyền Taliban. Tổng thống Barack Obama, người kế nhiệm ông đã có lúc gửi thêm quân.
Nhưng ông Trump lập luận rằng đã đến lúc phải rút lui. Trong cuộc họp nội các hồi đầu tháng Một (2019), khi thảo luận về kế hoạch rút một nửa trong số 14.000 lính Mỹ khỏi Afghanistan, ông Trump có nói rằng các quốc gia khác cần phải chia sẻ trách nhiệm, bao gồm cả Nga (nguyên văn: “other countries should pick up the slack, including Russia”).
“Lý do mà Liên-xô hiện diện ở Afghanistan là vì những kẻ khủng bố đang xâm nhập vào Liên-xô”, ông nói như vậy về việc Liên-xô đưa quân vào Afghanistan năm 1979. “Họ (Liên-xô) đã hành động đúng khi có mặt tại đó. Vấn đề là ở chỗ đó là một cuộc chiến khó khăn”.
Không có một tổng thống Mỹ nào khác tán thành sự xâm lược của Liên-xô, và phiên bản lịch sử viển vông của ông Trump đã khiến cho dư luận rộng rãi chế giễu. Nhưng ông Blanton, người đã nghiên cứu vấn đề này cùng với bà Einil Savranskaya, một nhà phân tích cao cấp tại kho lưu trữ, cho biết rằng những diễn dịch ban đầu của người Mỹ về động lực của Liên-xô cũng là sai nốt.
Trong một bản giác thư gửi cho ông Carter hai ngày sau khi diễn ra việc Liên-xô đổ quân vào Afganistan, cố vấn an ninh quốc gia lúc bấy giờ của ông Carter là Zbigniew Brzezinski đã cho rằng nó xuất phát từ “giấc mơ lâu đời của Moscow nhằm có được một sự tiếp cận trực tiếp vào Ấn Độ Dương thậm chí ngay cả khi nó chinh phục được một đất nước Afghanistan không hề có một lối đi ra biển”.
Một nhận thức, một suy nghĩ khác, thông thường hơn thì cho rằng đó là mong muốn của Kremlin nhằm nâng đỡ một nhà nước Cộng sản cùng ý thức hệ.
Ông Michael Dobbs, tác giả cuốn sách “Đả đảo người anh cả” (nguyên văn: “Down With Big Brother”), một cuốn biên niên sử về những năm cuối cùng của nhà nước Liên-xô, thì nói rằng “Nếu họ (Liên-xô) để cho Afghanistan ngả sang phương Tây, thì họ sẽ mất mát nhiều hơn là việc thuần túy mất mát một quốc gia có vị trí chiến lược ở ngay sát biên giới của họ. Họ sẽ phải thực tế thừa nhận rằng lịch sử có thể bị đảo ngược, tạo tiền đề cho một sự tan rã của toàn bộ đế chế (Xô-viết)”.
Bức điện tín của ông Blood gợi ý rằng ông Amin đã để ngỏ một khả năng “trở cờ, đảo cánh” (nguyên văn: “a realignment”) và chính điều này đã gây ra một sự lo sợ đối với Moscow về một ví dụ Ai Cập khác, quốc gia mà đã trượt ra khỏi quỹ đạo của Liên-xô hồi năm 1972. Trong cuộc họp kéo dài 40 phút vào ngày 27 tháng 10 năm 1979, ông Amin, đã phát biểu bằng tiếng Anh, và cho biết rằng ông muốn xích lại gần hơn với Hoa Kỳ, nơi mà ông đã từng theo học.
“Sau đó, ông đã tiếp tục, với khả năng hùng biện đáng kể, nhấn mạnh cam kết cá nhân của mình đối với việc cải thiện quan hệ Hoa Kỳ-Afghanistan, bày tỏ tình cảm của ông đối với Hoa Kỳ có được trong thời gian ông định cư tại nước ta (Hoa Kỳ)”, ông Blood đã viết như vậy.
Ông Amin phủ nhận rằng Liên Xô đã nổ súng. “Ông ta (Amin) đã tuyên bố rằng ông ta không bao giờ có thể hy sinh nền độc lập của Afghanistan theo bất kỳ một yêu cầu của một nước ngoài nào, kể cả từ Liên Xô”, ông Blood viết.
Nhà ngoại giao Mỹ ra về với một cái nhìn tích cực về ông Amin. “Người đàn ông này thật ấn tượng”, ông Mr. Blood viết. “Sự sống sót của ông ấy cho đến nay tự nó là một ấn tượng, cũng như phong thái tự tin thầm lặng mà ông ấy thể hiện. Điều rõ ràng là ông ấy nhận thức được tỷ lệ tử vong (cao) của các nhà lãnh đạo Afghanistan; nhiều lần ông ấy nói rằng ngay cả khi ông ấy bị giết chết vào ngày mai. Ông ấy che giấu sự tàn nhẫn và cứng rắn của mình bằng một phong cách nói chuyện nhẹ nhàng”.
Tuy nhiên, ông Blood vẫn thận trọng, khi khuyến nghị rằng không có một sự dịch chuyển địa chấn ngay lập tức nào sau khi Hoa Kỳ lượng định, đánh giá quyền lực hiện tại (của ông Amin). Tuy nhiên, tại Moscow, cuộc gặp này đã được (tình báo Nga-xô) ghi nhận với một sự báo động. “Chúng tôi nhận được thông tin về các hoạt động hậu trường của Amin, điều này có thể có nghĩa là một sự tái định hướng chính trị của ông ấy (Amin) đối với phương Tây”, Yuri V. Andropov (1914 – 1984), người đứng đầu K.G.B., đã nói với Leonid I. Brezhnev (1906 – 1982, nhà lãnh đạo Liên Xô), trong một bản giác thư viết tay vào tháng 12 năm 1979. “Ông ta (Amin) che giấu chúng ta về những liên hệ bí mật của ông ta với người Mỹ”.
Bản giác thư của Andropov (gửi cho Brezhnev) được công bố vào năm 1995 khi Anatoly F. Dobrynin, đại sứ lâu năm của Liên-xô tại Hoa Kỳ, được phép tiếp cận kho lưu trữ của Nga và sao chép tài liệu cho một dự án của Viện Nobel Na Uy. Tại cuộc họp ngày 8 tháng 12 năm 1979 – tại liệu này cũng được chuyển ngữ bởi ông Dobrynin – ông Andropov và Dmitri F. Ustinov, bộ trưởng quốc phòng, đã viện dẫn sự nguy hiểm của những tên lửa Mỹ đang được triển khai ở Afghanistan. “Bức tranh mà ông Andropov vẽ ra vào đầu tháng 12 là nếu Amin thực hiện một cú vặn vỏ đỗ, một cú trở cờ (nguyên văn: “if Amin did a flip”) thì nó sẽ thay đổi hoàn toàn thế cân bằng địa chính trị ở Nam Á”, ông Blanton đã nói như vậy. “Điều này sẽ giống với việc Mexico trở thành căn cứ cho các tên lửa tầm ngắn của Liên Xô. Chúng ta sẽ cảm thấy thế nào?”
Cuộc đổ quân được dự định sẽ là một chiến dịch cấp tốc (và đơn giản! – người dịch), như ở Hungary vào năm 1956 và ở Tiệp Khắc vào năm 1968. Nhưng lần này, (sự thể đã khác – người dịch), sự kháng cự đối với quân đội Xô-viết là rất khốc liệt và không ngừng nghỉ. Một sự sắp xếp lại mà ông Blood nêu lên đã diễn ra, với việc Hoa Kỳ hỗ trợ cho phiến quân Afghanistan. Tuy nhiên, đó là một sự sắp xếp lại mà đã không kéo dài.

Nguồn The New York Times International Edition

SHARE