Điều gì khiến chế độ cộng sản Trung Quốc sống lâu hơn?

Năm 1989, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã sống sót sau sau tình trạng bất ổn, điều mà chế độ cộng sản ở châu Âu không làm được.

Vừa qua, Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa kỷ niệm 70 năm ngày lập quốc, và theo quan điểm của nhiều nhà phân tích cho thấy, có sự khác biệt của chế độ cộng sản Trung Quốc.
Martin K. Dimitrov, giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Tulane đã trả lời phỏng vấn xoay quanh vấn đề này.

Hỏi: Các quốc gia cộng sản như Liên Xô – đã sụp đổ nhiều năm trước. Tại sao các chế độ cộng sản này thất bại, và điều gì giải thích cho khả năng hồi sức của Trung Quốc và Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ)?
Martin K. Dimitrov: Các học giả chưa đạt được sự đồng thuận về câu hỏi này, nhưng theo tôi, có ba yếu tố làm tăng đáng kể khả năng sụp đổ: môi trường quốc tế khắc nghiệt, sự tự chuyển hóa – diễn biến của tầng lớp tinh hoa và sự bất mãn hàng loạt. Năm 1989, cả Trung Quốc và Đông Âu đều trải qua những vụ tự diễn biến – chuyển hóa và sự bất mãn hàng loạt. Trung Quốc đã có thể dập tắt các cuộc biểu tình thông qua đàn áp, trong khi hầu hết các quốc gia Đông Âu cố gắng không dùng đến phương cách đó. (Romania đã làm, với hậu quả khiến cho chế độ sụp đổ nhanh hơn.)
Sự khác biệt quan trọng là sự bất mãn hàng loạt ở Trung Quốc chỉ giới hạn ở 1/5 dân số, và nằm ở nhóm dân thành thị, trong khi nhóm người tự diễn biến – chuyển hóa thuộc tầng lớp tinh hoa là hiếm hoi. Tổng Bí thư Trung Quốc Triệu Tử Dương là một người nằm trong nhóm thiểu số ủng hộ những người biểu tình.
Ở Đông Âu, có sự bất mãn lây lan ở cả nông thôn lẫn thành thị. Và ở các nước Đông Âu như Cộng hòa Dân chủ Đức, các phe phái cải cách trong đảng mạnh đến mức họ có thể bỏ phiếu để truất phế những người đương nhiệm cứng rắn ra khỏi chức vụ. Tuy nhiên, các xung lực cách mạng mạnh mẽ đã khiến những nhà lãnh đạo đảng mới này chỉ tồn tại trong một vài tháng và sau đó thống hoàn toàn sụp đổ.
Một sự khác biệt khác là với môi trường quốc tế.
Ở Đông Âu, các tư tưởng phương Tây chảy vào nhưng vốn ở ngoài. Ở Trung Quốc, vốn chảy vào nhưng ảnh hưởng của phương Tây ít lan tỏa.
Đông Âu cũng thành lập một khối quân sự và kinh tế với Liên Xô, giới hạn khả năng của những người cứng rắn chính trị nhằm tồn tại bên cạnh một nhà lãnh đạo cải cách của Liên Xô, Mikhail Gorbachev. Yếu tố này không có mặt ở Trung Quốc.
Vì những lý do này, đàn áp có nhiều khả năng thành công ở Trung Quốc hơn ở Đông Âu. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã thực hiện một canh bạc có tính toán để triển khai lực lượng chống lại những người biểu tình chiếm Quảng trường Thiên An Môn. Và điều này đã được đền đáp. Tuy nhiên, sự sống còn của chế độ không đồng nghĩa với khả năng phục hồi – kể từ năm 1989, Trung Quốc đã đảm bảo khả năng phục hồi thông qua những thay đổi thích nghi liên tục nhằm trói buộc giới tinh hoa và quần chúng với chế độ, để tránh một Thiên An Môn khác.
Hỏi: Những thách thức lớn nhất đối với sự cai trị tiếp tục của ĐCSTQ là gì?
MKD: Sự chia rẽ trong tầng lớp tinh hoa, tình trạng bất ổn hàng loạt – đặc biệt là ở các thành phố – và các yếu tố quốc tế sẽ đứng đầu danh sách này. Tuy nhiên, cho đến nay ĐCSTQ đã quản lý tất cả các mối đe dọa này thành công. Mặc dù thiếu sự gắn kết, nhưng không có thách thức rõ ràng nào có thể nhận ra đối với Tập Cận Bình.
Bạc Hy Lai, Bí thư thành ủy Trùng Khánh, người có khả năng đóng vai trò đó, nhưng nỗ lực che đậy vụ đầu độc chất độc xyanua với một công dân Anh do vợ của Bạc làm đã gây ra sự đổ nát chính trị của Bạc vào năm 2012. Nếu một ai đó đáng tin cậy đứng lên để thách thức Tập Cận Bình, thì xác suất gây rạn nứt tầng lớp tinh hoa sẽ tăng lên đáng kể.
Nhưng liệu sự tập trung quyền lực của Tập Cận Bình có làm tha hóa những người khác trong giới tinh hoa của ĐCSTQ, ai sẽ cảm thấy rằng triển vọng thăng tiến trong sự nghiệp của họ bị giảm đi? Kịch bản này có thể đe dọa khả năng chịu đựng của ĐCSTQ.
Sự tha hóa của tầng lớp tinh hoa đóng một vai trò quan trọng trong sự sụp đổ của Đông Âu, vì nó làm tăng khả năng tự diễn biến – chuyển hóa của tầng lớp này. Ví dụ Đông Âu cho thấy sự tự diễn biến – chuyển hóa tầng lớp tinh hoa, dẫn đến hai hệ quả: một mặt, các nhà cải cách bỏ phiếu cho lớp người đương nhiệm ra khỏi chức vụ và đảm nhận vai trò lãnh đạo của đảng; mặt khác, sự thách thức của Boris Yeltsin đối với Gorbachev, giới tinh hoa bất mãn có thể rời khỏi đảng và tạo thành một phong trào chính trị thay thế. Cả hai kịch bản hiện không thể xảy ra ở Trung Quốc, nhưng chúng minh họa những tác động cực đoan mà sự mất đoàn kết trong giới tinh hoa có thể gây ra đối với sự ổn định chính trị của các hệ thống cộng sản độc đảng.
Mối đe dọa thứ hai có vẻ phổ biến hơn. Người dân Trung Quốc có những bất bình, xuất phát từ các vấn đề như không được trả lương, bị cưỡng chế nhà đất một cách bất hợp pháp. Các vấn đề khác liên quan đến quyền ngôn ngữ và tôn giáo của các dân tộc thiểu số, thành viên của các nhà thờ ngầm và các học viên Pháp Luân Công. Chính phủ Trung Quốc đã dành các khaorn tài chính đặc biệt để duy trì sự ổn định, nhằm tránh các cuộc biểu tình, hoặc nếu chúng xảy ra, thì nhằm ngăn chặn sự lây lan của cuộc biểu tình. Vẫn còn phải xem Bắc Kinh có thể duy trì chính sách rất tốn kém này bao lâu nữa.
Một mối đe dọa tiềm năng thứ ba có thể đến từ bên ngoài Trung Quốc. An ninh văn hóa – ĐCSTQ đang hạn chế ảnh hưởng của nước ngoài, chính thức là một phần của học thuyết an ninh quốc gia của Trung Quốc. Các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã phải đối mặt với không khí ngày càng thù địch ở Trung Quốc trong thập kỷ qua, vô hiệu hóa khả năng của họ. Điều này giúp chính phủ dễ dàng xử lý các cuộc bạo loạn và cô lập biểu tình.

Hỏi: Cách tiếp cận của Trung Quốc đã ảnh hưởng đến quỹ đạo của các chế độ hậu cộng sản khác như thế nào? Thành công của ĐCSTQ có truyền cảm hứng cho các chính phủ khác học hỏi theo Trung Quốc không?
MKD: Một số quốc gia dường như ngưỡng mộ mô hình độc đoán tăng trưởng cao của Trung Quốc. Chẳng hạn, một thập kỷ trước, Vladimir Putin đã phái một phái đoàn Liên bang Nga đến Trung Quốc để học hỏi từ ĐCSTQ. Nga chỉ định các tổ chức phi chính phủ là các đại lý nước ngoài và những nỗ lực gần đây nhất của họ là hướng tới kiểm duyệt Internet.
Các chế độ cộng sản đưa ra nhiều bằng chứng trực tiếp hơn về việc vay mượn các động thái của ĐCSTQ. Hiến pháp mới của Cuba đã thực hiện giới hạn nhiệm kỳ cho Chủ tịch nước. Do đó, Cuba đang mô phỏng các hình thức kế thừa trước khi Tập Cận Bình lên nắm quyền.
Việt Nam dường như đang mượn một phần khác của mô hình Trung Quốc bằng cách hợp nhất Tổng Bí thư và Chủ tịch nước, dưới sự kiểm soát của ông Nguyễn Phú Trọng từ năm 2018.
Tuy nhiên, khi các chế độ cộng sản ở nơi khác áp dụng một phần của thiết lập thể chế Trung Quốc thì ĐCSTQ đã bỏ giới hạn nhiệm kỳ với chức vụ Chủ tịch nước, phù hợp hơn với các chế độ khác ở Trung Á và Châu Phi, nơi các nguyên thủ quốc gia trở thành nhà lãnh đạo trọn đời. 
Nguồn: https://www.washingtonpost.com/politics/2019/10/08/china-celebrates-years-communist-rule-what-explains-resilience-its-regime/