Luật trưng cầu ý dân: Đã có thể hỏi ý dân về Điều 4, Hiến pháp 2013?

Luật trưng cầu ý dân: Đã có thể hỏi ý dân về Điều 4, Hiến pháp 2013?

Tuy cùng là hình thức để nhân dân phát huy quyền dân chủ trực tiếp tham gia, thể hiện ý kiến với Nhà nước, nhưng giữa trưng cầu ý dân và lấy ý kiến nhân dân có sự khác nhau về nội dung, hình thức và giá trị pháp lý.

Câu trả lời là “có”. Người dân có quyền Hiến định bỏ lá phiếu để chọn “ai có quyền lãnh đạo ai và ai có quyền điều hành đất nước?”.

Luật trưng cầu ý dân 2015 đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10 – Quốc hội khóa XIII. Đây là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất nhằm hiện thực hóa Quy định về trưng cầu ý dân tại Hiến pháp 2013.

Theo đó, có những nội dung đáng chú ý sau: Việc trưng cầu ý dân được thực hiện trong phạm vi toàn quốc. Quốc hội xem xét, quyết định trưng cầu ý dân về các vấn đề như: Toàn văn hoặc một số nội dung quan trọng của Hiến pháp; Vấn đề đặc biệt quan trọng về chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, quốc phòng, an ninh, đối ngoại có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của quốc gia; Vấn đề đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước và vấn đề đặc biệt quan trọng khác của đất nước.

Luật trưng cầu ý dân 2015 có hiệu lực từ ngày 01-07-2016.

Trưng cầu ý dân và lấy ý kiến nhân dân

Tuy cùng là hình thức để nhân dân phát huy quyền dân chủ trực tiếp tham gia, thể hiện ý kiến với Nhà nước, nhưng giữa trưng cầu ý dân và lấy ý kiến nhân dân có sự khác nhau về nội dung, hình thức và giá trị pháp lý.

Về nội dung, vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân là những vấn đề quan trọng của đất nước, có phạm vi ảnh hưởng toàn quốc và phải do Quốc hội quyết định; còn vấn đề lấy ý kiến nhân dân có thể là các vấn đề ở mức độ, phạm vi khác nhau, thuộc nhiều lĩnh vực do nhiều cơ quan quyết định, có thể là vấn đề ở tầm quốc gia (ví dụ như lấy ý kiến về các dự thảo luật quan trọng) nhưng cũng có thể chỉ là các vấn đề liên quan đến một hoặc một số địa phương cụ thể (ví dụ như lấy ý kiến về việc điều chỉnh địa giới hành chính).

Về hình thức, trong trưng cầu ý dân, người dân thể hiện ý chí của mình thông qua việc bỏ phiếu kín, còn trong việc lấy ý kiến nhân dân thì các hình thức để người dân thể hiện ý chí thường linh hoạt hơn rất nhiều (có thể là bỏ phiếu, lấy ý kiến vào văn bản hoặc phát biểu trực tiếp tại các hội nghị, cuộc họp lấy ý kiến…).

Về giá trị pháp lý, trưng cầu ý dân có giá trị quyết định, có thể thi hành ngay đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu; còn kết quả lấy ý kiến nhân dân là cơ sở để cơ quan, tổ chức lấy ý kiến xem xét, quyết định. Đối tượng của việc lấy ý kiến nhân dân có thể là cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình,… trong khi đó, đối tượng trưng cầu ý dân chỉ gồm các cử tri. Việc ban hành Luật trưng cầu ý dân không hạn chế việc Nhà nước tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với những vấn đề đã được quy định trong Hiến pháp và pháp luật.

15 ngày, ba phần tư và 50% lá phiếu…

Cuộc trưng cầu ý dân hợp lệ phải được ít nhất ba phần tư tổng số cử tri cả nước có tên trong danh sách cử tri đi bỏ phiếu. Nội dung trưng cầu ý dân được quá nửa số phiếu hợp lệ tán thành có giá trị thi hành (Điều 44 của Luật).

Sau khi nhận và kiểm tra báo cáo kết quả trưng cầu ý dân của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và giải quyết những khiếu nại, tố cáo (nếu có), Ủy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết xác định kết quả trưng cầu ý dân trong cả nước. Nghị quyết xác định kết quả trưng cầu ý dân phải được công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày bỏ phiếu trưng cầu ý dân; trường hợp bỏ phiếu lại thì thời hạn công bố kết quả trưng cầu ý dân chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày bỏ phiếu lại.

Lưu ý là không có trường hợp vào giờ chót phải chờ đợi hỏi ý kiến Bộ Chính trị bằng thủ thuật quen thuộc là “Quốc hội xem xét, ra nghị quyết xác nhận kết quả trưng cầu ý dân hoặc xem xét, thông qua lại các nội dung đã được người dân bỏ phiếu tán thành”. Bởi một khi vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân đã được người dân lựa chọn, quyết định nên mọi cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong đó bao gồm cả Quốc hội có trách nhiệm tôn trọng và thực hiện kết quả trưng cầu ý dân đã được cử tri biểu quyết.

Vì sao cần sửa đổi Điều 4, Hiến pháp 2013?

Điều 4.1: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Thỏa thuận TPP, thời gian tới Việt Nam sẽ có các tổ chức công đoàn độc lập. Đây là những tổ chức xã hội – dân sự, và theo nội dung ở Điều 4.1, cho thấy đã có sự phân biệt đối xử giữa “công nhân – đảng viên” và “người lao động – không đảng viên”. Nếu tiếp tục quan điểm “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân”, sẽ không thể có các tổ chức công đoàn độc lập đúng nghĩa, vì những tổ chức này có thể chấp nhận, hoặc không chấp nhận sự hiện diện của tổ chức đảng.

Tương tự, khi Việt Nam tham gia vào các Điều ước quốc tế, thì yêu cầu đảng cộng sản là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” không có giá trị pháp lý – ngoại trừ trường hợp cơ quan đảng với cơ quan chính quyền hợp nhất thành một.

Ngoài ra, cần thiết chấm dứt phân biệt về “quyền lợi chính trị” giữa “công dân – đảng viên” và “công dân – không đảng viên” trong tất cả mọi hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Điều này đã được xác lập tại Điều 14: “1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. 2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

Điều 4.2: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”; Điều 4.3: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Hiến pháp 1980, 1992 và 2013 đều có nội dung như vậy ở Điều 4. Tuy nhiên cho đến nay chưa có thể chế nào quy định rõ tổ chức đảng và đảng viên hoạt động theo khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật là gì? Hay là chỉ có tư cách cá nhân là công dân và tổ chức thì hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật thôi. Còn với tư cách là đảng viên, thành viên trong tổ chức Đảng thì hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là gì thì chưa được thể chế hóa; cũng chưa thể chế hóa để cho người dân giám sát tổ chức đảng và đảng viên.

Khi căn cứ vào các thỏa thuận về Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, thì các nội dung của Điều 4, Hiến pháp 2013 tiếp tục lấn cấn về mặt pháp lý: Đảng cầm quyền hay đảng lãnh đạo?. Nếu là Đảng cầm quyền thì có nghĩa Đảng quyết định tất cả?. Còn nếu Đảng không phải là đảng cầm quyền, thì cụm từ “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” được hiểu ra sao? Cho đến nay, vấn đề gì Quốc hội không đạt sự đồng thuận, thường chuyển qua cho Bộ Chính trị – cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng quyết định. Trong khi đó, nếu là Nhà nước pháp quyền thì mỗi chính sách gì Đảng đưa ra cũng phải thuyết phục Quốc hội. Quốc hội có thể đồng ý hoặc không đồng ý. Không bao giờ xảy ra việc Bộ Chính trị đã quyết rồi và Quốc hội phải bắt buộc phải chấp thuận.

Tuy nhiên, lâu nay những chỉ thị, nghị quyết của Đảng luôn được Quốc hội thể chế hóa đi để thực hiện

Thảo Vy – Trần Thành (VNTB)

Shares

Đất Việt là nơi tự do bày tỏ ý kiến, không có chế độ kiểm duyệt. Rất mong nhận được ý kiến của độc giả.

21 queries in 1.938 seconds.