Lãnh đạo tối cao Trung Quốc: Tập Cận Bình và người cha “phản đảng” Tập Trọng Huân

Lãnh đạo tối cao Trung Quốc: Tập Cận Bình và người cha “phản đảng” Tập Trọng Huân

Tập Trọng Huân bị tố là phần tử phản Đảng. Ảnh chụp từ màn hình Đài Truyền hình Dân Thị

Tháng 11 năm 2012, Đại hội Đảng lần thứ 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bầu ra dàn lãnh đạo thế hệ thứ 5, trong đó, Tập Cận Bình được được bầu làm Tổng bí thư, Chủ tịch Quân ủy Trung ương, người lãnh đạo tối cao thế hệ thứ 5 của Trung Quốc. Tập Cận Bình là ai, ở Trung Quốc không ai không biết, không ai không rõ. Thế nhưng, ông là người thế nào, hành xử ra sao, càng khiến cho cả thế giới bên ngoài Trung Quốc hiếu kì muốn biết. Cha của Tập Cận Bình là vị khai quốc công thần của Trung Cộng Tập Trọng Huân, vì vậy nhiều người quy ông vào thành phần “Thái tử Đảng”.

Thế nhưng, quá trình trưởng thành của ông không giống đa số các “Thái tử Đảng” khác, thời niên thiếu trải qua không ít sóng gió, khiến ông có dịp thâm nhập vào đời sống nghèo khó của tầng lớp dưới trong xã hội Trung Quốc. Sau đó, kinh nghiệm làm việc hơn 20 năm tại Phúc Kiến, Chiết Giang khiến ông hòa nhập sâu rộng vào quá trình cải cách mở cửa kinh tế Trung Quốc. Ông cũng chính là người gần gũi với Đài Loan nhất trong số các lãnh đạo Trung Quốc qua các đời. “Đài Loan diễn nghĩa” số ra lần này sẽ tập hợp tư liệu từ nhiều nguồn, có sự đóng góp của học giới và doanh nhân Đài Loan, sẽ giới thiệu đến các bạn người lãnh đạo tối cao của Trung Quốc Tập Cận Bình.

Năm 1949, Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập tại Bắc Kinh. Sau khi nhanh chóng đánh lui Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan, chính quyền Trung Cộng ở Đại Lục thống nhất đất nước. Để thống nhất quyền lãnh đạo quân đội, Mao Trạch Đông lệnh cho quân đội các nơi phải trực thuộc quyền lãnh đạo trung ương. Tháng 8/1952, Mao Trạch Đông điều động thành viên cốt cán của 5 quân ủy lớn về thủ đô. Tập Trọng Huân, người thường xuyên chủ trì các hoạt động Khối Quân chính Đảng khu vực Tây Bắc, đương thời là quyền Chủ tịch Khối Quân chính Đảng khu vực Tây Bắc, đã từ Thiểm Tây đến Bắc Kinh, đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trung ương Trung Cộng. Lúc này, bà Tề Tâm, vợ của Tập Trọng Huân đã mang thai người con thứ ba, cũng chính là người lãnh đạo tối cao thế hệ thứ 5 nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau này – ông Tập Cận Bình.

Tập Trọng Huân và Tề Tâm sinh tổng cộng 4 người con. 2 người con gái đầu tên là Kiều Kiều và An An. Khi Tập Trọng Huân giữ chức Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, vì muốn tránh sự chú ý của người ngoài vào các con, Tập Trọng Huân đã cho hai con gái đầu đổi sang lấy họ mẹ. Người con trai thứ ba là Tập Cận Bình, sinh ngày 1/6/1953. Người con trai thứ tư nhỏ hơn Tập Cận Bình 2 tuổi tên là Tập Viễn Bình. Trước khi kết hôn với Tề Tâm, Tập Trọng Huân đã có một người vợ trước là cán bộ Hội Phụ nữ một thành phố thuộc tỉnh Thiểm Tây tên là Hác Minh Châu, sinh được 2 gái 1 trai. Tập Trọng Huân xuất thân từ vùng Thiểm Tây nghèo nàn, lại thêm đông con cái, cách giáo dục con cái của ông là xem trọng sự đơn giản, tiết kiệm.

Cả Tề Tâm, tức mẹ tập Cận Bình, cũng đều là người đến từ Thiểm Bắc. Trước đây Thiểm Bắc nghèo đói đến mức nào, thậm chí đến mức phải đi bóc vỏ cây mà ăn trong thời Cách mạng Văn hóa. Tập Trọng Huân, lúc đó nhiều thứ xài xong rồi không bỏ đi, mà để đó dùng lại. Đài Loan trước đây cũng có lúc như vậy. Chẳng hạn, em gái mặc quần áo của chị để lại. Lúc đó tình hình Bắc Kinh cũng như vậy. Quần áo, giày dép của hai chị không còn mặc vừa nữa, cha mẹ ông phải nhuộm từ màu đỏ lại thành màu xanh để cho anh em ông xài. Thực trạng đó đã tồn tại ở gia đình ông. [Bạch Đức Hoa (Nhà báo chuyên viết về quan hệ 2 bờ)]

Tập Trọng Huân về nhận nhiệm vụ ở Bắc Kinh rất được trọng dụng. Năm 1959, Chu Ân Lai giữ chức Thủ tướng Quốc vụ viện, Tập Trọng Huân được thăng chức phó Thủ tướng Quốc vụ viện kiêm Bí thư Đảng ủy, trở thành trợ thủ đắc lực của Chu Ân Lai. Nhưng trong nội bộ lãnh đạo Trung Cộng dần có sự đấu tranh quyền lực, từ khi Trung Cộng lập nước về sau âm ỉ không ngừng. Năm 1962, khi Tập Cận Bình được 9 tuổi, Tập Trọng Huân vì viết một quyển tiểu thuyết về Lưu Chí Đan, người lập ra vùng căn cứ quân đội Thiểm Bắc, vô tình bị quy kết là đầu não của tập đoàn phản Đảng.

Năm 1962, diễn ra một đại hội 7.000 người, sau đó giữa Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ có sự đối trọng, cho nên bắt đầu nói về đấu tranh giai cấp, bắt người để đấu tranh giai cấp, ở đâu cũng đấu tranh giai cấp, nông thôn cũng đấu tranh giai cấp, ngành văn hóa cũng đấu tranh giai cấp. Họ ra lệnh thanh tra, lúc đó Bộ Tuyên truyền Trung ương, tôi làm trong đó, họ thanh tra xem có phim ảnh, tranh ảnh, gọi là tranh đen, phim đen, tiểu thuyết đen, hay không. Trong lúc thanh tra có người tố cáo, họ bảo quyển sách Lưu Chí Đan có vấn đề. Khang Sinh chuyên nghiên cứu về hình thái ý thức hệ, ông này xem xong bảo với Mao Trạch Đông rằng đây là tiểu thuyết phản Đảng. Nhưng trên thực tế quyển sách Lưu Chí Đan đó không có gì, nó chỉ là một quyển tiểu thuyết, kể một câu chuyện lịch sử. [Nguyễn Minh (Nhóm cố vấn Cố Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang)]

Sau khi quyển tiểu thuyết Lưu Chí Đan bị thanh tra, Tập Trọng Huân bị quy kết là người đứng đầu tập đoàn phản Đảng, bị cách ly thẩm tra. Năm 1965, Tập Trọng Huân 52 tuổi, đã bị đưa đến xưởng máy khai thác quặng ở Lạc Dương, về danh nghĩa là làm phó xưởng trưởng, nhưng trên thực tế là bị đưa đi lao động cải tạo, lúc này Tập Cận Bình mới 12 tuổi đã phải cách biệt cha mình 7 năm.

Năm 1966, Mao Trạch Đông, đã nghe theo lời nhóm nhà văn mà Giang Thanh vợ ông là người đứng đầu, phát động cuộc Cách mạng văn hóa giai cấp vô sản. Vợ của Tập Trọng Huân là Tề Tâm, vì không chịu đấu tố chống lại người chồng bị bắt với tội danh phản Đảng của mình, nên cũng gặp phải liên lụy. Tập Cận Bình lúc này 13 tuổi, không chỉ không được vào Hồng vệ binh, mà còn bị xem là “trứng thối của thành phần phản động”, là “con cháu của bè lũ đen”.

Cuộc Cách mạng văn hóa khiến cho kinh tế trượt dốc thảm hại, chính phủ Trung Cộng lúc đó không có cách nào giải quyết vấn đề việc làm, nên Mao Trạch Đông ra chỉ thị cho thanh niên trí thức phải “lên núi, về nông thôn, ra biên cương” để tiếp nhận lại sự giáo dục của tầng lớp hạ trung nông nghèo khổ. Gia đình Tập Cận Bình tại Bắc Kinh vì bị đấu tố phê phán, nên mỗi người cũng chia cách một nơi. Mẹ ông, bà Tề Tâm, bị đưa đi lao động ở Hà Nam. Năm 1969, Tập Cận Bình gần 16 tuổi, để rời khỏi Bắc Kinh lánh nạn, cũng đã hưởng ứng phong trào về nông thôn của thanh niên. Ông đã đăng ký đến vùng đất là nơi sinh ra của cha mình, huyện Phú Bình tỉnh Thiểm Tây, với hy vọng nương nhờ vào thân thích bên nội. Ông không ngờ rằng những người thân thích đó vì áp lực chính trị quá lớn, đã không dám dung nạp ông. Tập Cận Bình đành phải chuyển đến nơi cha mình đã từng chiến đấu qua là Diên An, cuối cùng được phân công đến đại đội Lương Gia Hà, thuộc công xã Văn An Dịch, huyện Diên Xuyên.

Cao nguyên Hoàng Thổ ở Thiểm Bắc đất đai cằn cỗi, được dùng để trồng tiểu mạch và cao lương, nhưng thu hoạch cũng chẳng được là bao. Tập Cận Bình năm đó đến Lương Gia Hà, ở trong một căn nhà nhỏ được đào tựa vào trong vách núi ở Thiểm Bắc, giường nằm đắp bằng đất, còn phải thường xuyên ứng phó với côn trùng. Những ngôi nhà đất như vậy vẫn còn được giữ nguyên trạng cho đến nay.

Sau khi Tập Cận Bình đến với nông thôn, một ngôi làng nếu như có 10 hộ gia đình thì có đến 9 hộ phải đi ra ngoài kiếm cơm ăn, ban ngày đi kiếm ăn, ban đêm trở về nhà. Cho nên có thể nói nơi đó “ba tháng không biết mùi thịt”, nông dân vùng đó có câu nói “mập tháng giêng, ốm tháng 2, sống dở chết dở tháng 3-4”, nghĩa là suốt nửa năm người nông dân Trung Quốc đương thời phải sống trong cảnh đói khát. Lúc mới đến đương nhiên cuộc sống rất là cực khổ, ông ấy cũng không chịu nổi cái khổ này, cho nên có khoảng thời gian ông phải chạy về Bắc Kinh. Sau đó nghe lời của một người dượng khuyên bảo: “Nếu muốn thành người làm nên đại sự vì nhân dân, vì đất nước, thì nhất định phải đi vào quần chúng, tiếp cận quần chúng và dựa vào quần chúng”. [Tống Quốc Thành (Nghiên cứu viên Trung tâm Quốc Quan, Đại học Chính Trị Đài Loan)]

1

Tập Cận Bình thời “lên núi, về nông thôn, ra biên cương”. Ảnh chụp từ màn hình Đài Truyền hình Dân Thị

Sau đó Tập Cận Bình trở về Lương Gia Hà, tự điều chỉnh nhận thức của mình, dần dần thích ứng được với cuộc sống nghèo khổ nơi đó. Ở đó một thời gian lâu, Tập Cận Bình lao động trong đội xây dựng cơ bản, công việc chủ yếu là đắp đập ngăn nước.

Họ muốn chặn nước trên dòng sông đó, thực ra chỉ là một dòng kênh nhỏ, sau đó xây một cái đập giữ nước cho các hộ nông dân sử dụng tưới tiêu. Nhưng cũng phải thấy rằng, ở khu vực cao nguyên Tây Bắc, mùa đông dòng sông bị đóng băng, cho nên trước khi xây đập phải đập vỡ băng ra, rồi dọn hết sang chỗ khác lấy đất xây đập. Cho nên lúc đó ông Tập cùng mấy người dân trong làng đứng trên dòng sông quan sát cả buổi trời, không ai dám xuống làm vì thời tiết quá lạnh. Vậy mà ông Tập đã kéo quần lên lao xuống làm. [Tống Quốc Thành]

Ông ấy là người nói thật làm thật, khi làm việc gì cũng cần mẫn thành thật, ở trong thôn làm việc luôn đi đầu, ông ấy luôn đi trước đối mặt với cực khổ, tôi thấy ông ấy là người dám nói dám làm. [Một nông dân ở Lương Gia Hà]

Giải quyết vấn đề thiếu nước tưới tiêu xong, ở Lương Gia Hà lúc đó cũng thiếu điện. Biết khí biogas cũng có thể phát điện, ông Tập Cận Bình đã tự mình đi khảo sát để xây hầm ủ khí biogas. Bây giờ đến Lương Gia Hà vẫn có thể nhìn thấy hầm ủ khí biogas đầu tiên ở Thiểm Tây do Tập Cận Bình xây.

Khi đó, ông Tập đến Diên An, khoảng cách từ Lương Gia Hà đến Diên An khoảng hơn 100 km. Đầu tiên đi xe ngựa, sau bắt một chuyến xe khách mới tới Diên An, đường đi rất khó khăn. Ông tự mình đi khảo sát tìm hiểu, lúc đó chỉ là một thanh niên thôi. [Bạch Đức Hoa] Không chỉ xây hầm ủ khí biogas, giải quyết vấn đề thiếu điện trong làng, nơi ở của một học sinh vừa học xong cấp hai như Tập Cận Bình đã dần biến thành trung tâm điểm của thôn. Chiều tối mỗi ngày, người già trẻ nhỏ hay tụ tập lại đây để nghe ông kể về những câu chuyện trong thành phố.

Bởi vì trong thời kỳ lịch sử này, đối với ông ấy là một thời kỳ lịch sử có sự ảnh hưởng rất đặc biệt, cho nên ông ấy biết quần chúng nhân dân làm gì, làm sao để tôn trọng quần chúng nhân dân, như mới nào mới là thật sự cầu thị, đó là những thứ cơ bản mà một người lãnh đạo của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cần có. [Đàm Hoa (Giáo sư Lịch sử Đảng Cộng sản Đại học Diên An)]

Nhưng ở nơi sơn cùng thủy độc đó, muốn hướng về tương lai, Tập Cận Bình biết rằng con đường duy nhất là vào Đảng làm quan chức. Nhưng cha ông Tập Trọng Huân bị xem là phần tử phản Đảng, ông đã gửi đơn xin vào Đảng một cách rất âm thầm rụt rè, cuối cùng bị từ chối.

2

Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình (trái) phục hồi uy tín cho Tập Trọng Huân, đưa ông làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông từ 1979 – 1981.

Trải qua 10 lần làm đơn xin vào Đảng, 9 lần đầu đều bị từ chối, lần cuối cùng ông phải đến Lạc Dương, nơi cha của ông đang phải lao động cải tạo, để xin một tờ giấy xác nhận của địa phương là cha của ông không phải là phần tử tham gia phản Đảng, chỉ đơn thuần là bị Khang Sinh vu khống hãm hại. Trong tình cảnh đó, nhờ sự xác nhận của bí thư huyện ủy nơi đó nên rốt cuộc ông mới có thể xin được vào Đảng, trở thành một Đảng viên. Cho nên trong lịch sử phát triển Đảng Cộng sản Trung Quốc, người làm đơn xin vào Đảng 10 lần mới có thể được vào, mà hôm nay là trở thành Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tôi nghĩ đây là một kinh nghiệm vô cùng thú vị. [Tống Quốc Thành]

Năm 1973, Tập Cận Bình được phê chuẩn gia nhập Đảng Cộng sản. Mùa đông năm đó, ông được đề bạt làm Bí thư chi bộ Đảng của đại đội Lương Gia Hà. Ông là người đầu tiên trong số các thanh niên đến lao động tại vùng nông thôn Diên An được giữ chức vụ này. Tháng 12/1974, những góc khuất của cái án Lưu Chí Đan, mà vì nó gia đình ông Tập bị đấu tranh phê phán, dần lộ ra ánh sáng. Mao Trạch Đông chỉ thị, vụ này đã được thẩm tra rất lâu không thấy vấn đề gì, không nên kéo dài nữa, yêu cầu tuyên bố hủy bỏ không truy cứu nữa. Vào mùa xuân năm sau, năm 1975, Tập Trọng Huân được sắp xếp đưa đến huyện Lạc Dương, Hà Nam, để an dưỡng điều trị bệnh. Tập Cận Bình lúc này 22 tuổi, vốn không ngừng đọc sách tự học, đã chớp lấy cơ hội vào học đại học. Huyện ủy Diên Xuyên đã giới thiệu Tập Cận Bình với tư cách học viên công nông vào học tại Đại học Thanh Hoa. Ngày 7/10/1975, ngày Tập rời khỏi Lương Gia Hà, dân trong làng kéo đến tiễn biệt rất đông. Ngày sau ông cùng bạn bè chụp chung tấm hình lưu niệm, phía trên có ghi “Kỷ niệm ngày nhập học của Tập Cận Bình 8/10/1975”. Trong hình, Tập là người ngồi ở vị trí tung tâm.

3

Tập Cận Bình chụp ảnh kỷ niệm ngày mới vào Đại học Thanh Hoa. Ảnh chụp từ màn hình Đài Truyền hình Dân Thị

Trong thời gian về nông thôn, ông ấy qua lại cùng với dân thường rất là thân thiết. Cho nên tôi nghĩ ông ấy có sự thể nghiệm sâu sắc hơn về cuộc sống, nhu cầu, mong muốn của quần chúng nông dân. Việc này nếu so sánh với Bạc Hy Lai thì hoàn toàn đối lập. Họ dù đều là “Thái tử Đảng”, thế nhưng Bạc Hy Lai hoàn toàn không có những trải nghiệm giống như ông Tập. [Khấu Kiện Văn (Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc lập Chính Trị, Đài Loan)]

Từ năm 1969, Tập Cận Bình 15 tuổi, được phân công đi lao động tại vùng đất khô cằn Thiểm Bắc, cho đến năm 22 tuổi ông mới rời khỏi đây. Hơn 7 năm sinh sống và lao động gian khổ ở nông thôn, đã lưu lại trong lòng ông những dấu ấn sâu đậm.

Minh Nguyệt biên dịch (VNTB)

Shares

Đất Việt là nơi tự do bày tỏ ý kiến, không có chế độ kiểm duyệt. Rất mong nhận được ý kiến của độc giả.

41 queries in 2.668 seconds.