Hai dự án bô-xít tại Việt Nam: Chuyên gia bảo lỗ, Bộ Công Thương nói không

Một số chuyên gia cho rằng, năm 2015, Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam sẽ lỗ khoảng 37,4 triệu USD từ các dự án bô-xít.

Hai dự án bô-xít tại Việt Nam: Chuyên gia bảo lỗ, Bộ Công Thương nói không

Shares

Bồn lắng rửa bùn đỏ trong tổ hợp bôxit nhôm Tân Rai. ảnh: Tuổi trẻ,

Đánh giá hai dự án bô-xít lỗ là vội vã, thiếu cơ sở

Tại một buổi hội thảo ngày 28/3, một số chuyên gia đã chỉ ra rằng, Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam (TKV) sơ hở trong đấu thầu; dây chuyền công nghệ không hiện đại từ nhà thầu Trung Quốc… khiến cho sản lượng thấp, số lượng nhân công lại quá lớn (TS. Nguyễn Thành Sơn – nguyên giám đốc Ban quản lý dự án than đồng bằng sông Hồng cho rằng, quy mô của Tân Rai chỉ cần 250 – 300 lao động, nhưng thực tế đang có hơn 1.000 lao động).

Trong khi đó ông Nguyễn Văn Ban – nguyên Trưởng ban alumin (Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam) thì cho biết: “Một hội thảo diễn ra năm 2009 đã chỉ ra những nguy cơ về hiệu quả kinh tế của các dự án này, nhất là với nhà máy Nhân Cơ”.

Theo ông Ban, nhà thầu Trung Quốc đã bỏ thầu rất thấp làm các nhà thầu ở những nước phương Tây từ bỏ. Nhưng đến khi chúng ta làm việc cùng họ để ký hợp đồng thì giá bỏ thầu và giá trên hợp đồng là khác nhau. Phía Trung Quốc giải thích về sự chênh lệch này là do trong giá bỏ thầu họ chưa tính đến các thiết bị dự phòng.

Với rất nhiều những điểm nổi cộm (đặc biệt là công nghệ), các chuyên gia cho rằng năm 2015, TKV sản xuất 660.000 tấn bô-xít thì sẽ lỗ khoảng 37,4 triệu USD.

Trước quan điểm thẳng thắn của một số chuyên gia, Bộ Công Thương tiếp tục khẳng định: Dự án có hiệu quả, thời gian lỗ kế hoạch dự kiến là 4 năm và thời gian thu hồi vốn 11,5 năm.

Cụ thể, dự án Nhà máy alumin Nhân Cơ có điều kiện vận tải xuống cảng biển xa hơn, hạ tầng khó khăn hơn nên hiệu quả kinh tế thấp hơn so với Dự án alumin Tân Rai, với thời gian lỗ kế hoạch là 5 năm và thời gian thu hồi vốn 12 năm.

Ngoài ra, cùng với việc TKV rút kinh nghiệm từ Dự án Nhà máy alumin Tân Rai, làm chủ hoàn toàn về công nghệ, cải tiến kỹ thuật và tổ chức sản xuất hợp lý để tiết giảm chi phí để tiến tới cổ phần hóa toàn bộ dự án.

Giá bán alumin trên thế giới hiện đã bước vào chu kỳ tăng. Mức giá hiện nay trên đã vượt mức dự báo tăng giá alumin trong tính toán hiệu quả kinh tế, do vậy hiệu quả kinh tế của dự án tăng lên; thời gian lỗ kế hoạch dự kiến sẽ giảm, thời gian thu hồi vốn cũng giảm theo.

Bộ Công Thương cũng cho biết, từ tháng 11/2013 đến tháng 4/2014, Đoàn giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thực hiện việc giám sát tổng thể “Hiệu quả tổng thể về kinh tế – xã hội gắn với đảm bảo an ninh- quốc phòng của 2 dự án bôxit Tân Rai và Nhân Cơ do TKV làm chủ đầu tư”; trên cơ sở đó ngày 23/6/2014 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 775/NQ-UBTVQH13, đánh giá việc triển khai thí điểm 2 dự án là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của các địa phương có tài nguyên khoáng sản, thúc đẩy phát triển toàn diện kinh tế – xã hội ở khu vực địa bàn chiến lược Tây Nguyên.

Hiệu quả tổng hợp bước đầu của 2 dự án đã tác động lan tỏa và tích cực đến phát triển kết cấu hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động tại các địa phương. Dự án đã tạo được sự đồng thuận và nhận được sự ủng hộ, hỗ trợ tích cực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông.

Theo tính toán, thì dự án Tân Rai lỗ kế hoạch 4 năm đầu, Nhân Cơ lỗ 5 năm đầu do phải trả nợ các khoản vay đến hạn… nên việc năm 2015 và một vài năm tiếp theo, các khoản lỗ mang tính chất lỗ kế hoạch theo dự kiến mang tính qui luật.

Từ những căn cứ trên, Bộ Công Thương cho rằng: Đánh giá “nếu sản xuất 660.000 tấn bôxít sẽ lỗ khoảng 37,4 triệu USD” là vội vã, thiếu cơ sở.

Không thể có lỗ?

Đối với vấn đề kỹ thuật, công nghệ, Bộ Công thương cho biết: Bôxit Tây Nguyên tồn tại dưới dạng gipxit-gơtit, chất lượng thuộc loại trung bình, thường phải qua tuyển rửa mới đảm bảo chất lượng để sử dụng cho công nghệ Bayer; bôxit thuộc loại gipxit dễ hòa tách nên hoàn toàn có thể xử lý bằng công nghệ Bayer Châu Mỹ (nhiệt độ khoảng 140-1500C, với nồng độ kiềm khoảng 160-170g/lit Na2O).

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập Hội đồng Giám sát và đánh giá kết quả việc chuyển giao và ứng dụng công nghệ đối với hai dự án bôxit Tân Rai và Nhân Cơ. Hội đồng đã tổ chức họp và đánh giá như sau:

Công nghệ khai thác, vận chuyển và tuyển quặng bôxit: Công nghệ khai thác, vận chuyển và tuyển rửa do Nhà thầu trong nước thực hiện, đến nay đã hoàn thành và đưa mỏ vào sản xuất. Công tác thiết kế mỏ bài bản. Công nghệ khai thác hợp lý. Công nghệ tuyển rửa đáp ứng được yêu cầu sản xuất. Nhà thầu đã bàn giao cho Công ty nhôm Lâm Đồng quản lý và vận hành từ ngày 31/12/2012.

Hiện nay, Công ty nhôm Lâm Đồng đã vận hành ổn định, làm chủ dây chuyền công nghệ, nghiên cứu và cải tiến một số khâu công nghệ để nâng cao công suất, hiệu quả nhà máy như khâu lắng bùn thải quặng đuôi sau tuyển, tuyển không sử dụng máy đập búa… Việc sai khác trong thực tế so với thiết kế là chấp nhận được, không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất.

Công nghệ sản xuất alumin: Dự án lựa chọn Công nghệ Bayer Châu Mỹ, hòa tách ở nhiệt độ 1450C, áp suất 5 – 7 atm cho quặng bôxit gipxit là hợp lý. Đây là công nghệ được áp dụng phổ biến trên toàn thế giới cho các nhà máy alumin chế biến quặng bôxit gipxit. Công nghệ áp dụng cho nhà máy alumin Tân Rai được đánh giá là tiên tiến. Qua đó thấy rằng các vấn đề về công nghệ đã được chuyên gia của Hội đồng xem xét một cách thận trọng và kỹ lưỡng, có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn.

Đối với Nhà máy tuyển quặng, do Việt Nam tự thiết kế, không phải của Trung Quốc, do tính đặc thù quặng bôxit Tây Nguyên thuộc loại khó tuyển nên ban đầu cũng gặp không ít trục trặc, công suất đạt thấp, tỷ lệ thu hồi quặng tinh không cao. Đến nay TKV đã tiếp nhận, làm chủ công nghệ nên các chỉ tiêu công nghệ đạt tốt như Hội đồng khoa học công nghệ đã đánh giá. Rút kinh nghiệm Dự án Tân Rai, Nhà máy tuyển Dự án Nhân Cơ đã có những khâu cải tiến đáng kể, nâng cao tỷ lệ thu hồi quặng tinh, giảm tổn thất.

Về công suất của nhà máy alumin: Trong Hồ sơ mời thầu ban đầu với công suất thiết kế là 600.000 tấn/năm, nhà thầu dự thầu 600.000 tấn/năm. Sau đó, theo đề nghị của TKV, Nhà thầu có cam kết bổ sung. Nhà máy alumin công suất thiết kế là 650.000 tấn/năm, công suất vận hành ổn định là 630.000 tấn/năm, để dự phòng duy tu, bảo dưỡng, thay thế thiết bị, phụ tùng. Khi tính toán hiệu quả Dự án chỉ tính công suất vận hành của Nhà máy là 630.000 tấn/năm, chứ không tính công theo công suất thiết kế. Vì vậy, không thể có lỗ và thiệt hại phát sinh do giảm công suất thiết kế.

Theo hợp đồng EPC và thực tế triển khai thực hiện, Nhà thầu EPC tính toán lập thiết kế nhà máy alumin với công suất 650.000 tấn alumin/năm, lớn hơn công suất mời thầu 600.000 tấn của TKV. Sản lượng năm 2015 dự kiến đạt 540.000 tấn, năm 2016 dự kiến đạt 650.000 tấn alumin (đạt công suất thiết kế).

Về vấn đề tiêu hao quặng, tinh quặng bôxit, theo Bộ Công Thương, định mức sử dụng quặng, tinh quặng bôxit phụ thuộc nhiều vào chất lượng quặng bôxit đầu vào. Đối với quặng bôxit Tây Nguyên hàm lượng trung bình, nhiều tạp chất nên việc tiêu hao quặng cao hơn so với quặng bôxit của một số quốc gia như Úc, Braxin… là điều dễ hiểu.

Đất Việt là nơi tự do bày tỏ ý kiến, không có chế độ kiểm duyệt. Rất mong nhận được ý kiến của độc giả.