Giết nhiều người thì không được quyền im lặng?

Giết nhiều người thì không được quyền im lặng?

Shares

Án mạng giết sáu người ở Bình Phước gây chấn động tại Việt Nam

Hai vụ án mạng xảy ra ở Bình Phước (6 người chết) và Nghệ An (4 người chết) đã thu hút sự quan tâm theo dõi của đông đảo người dân cả nước. Sau nhiều ngày lần theo manh mối dấu vết tội phạm, cơ quan điều tra đã bắt được các nghi phạm, nhân dân cả nước phấn khởi vui mừng.

Ngay sau khi bắt cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai, người dân cả nước ngóng tin xem kẻ bị bắt có thừa nhận không và nguyên nhân động cơ mục đích nào khiến chúng ra tay tàn sát như vậy?

Tâm trạng người dân

Trong bối cảnh đó, khi mà người dân đang nôn nóng đợi thông tin từ lời khai của nghi phạm, nếu ai mà nêu ra vấn đề quyền giữ im lặng thì sẽ nhận được sự tức giận chán ghét của cộng đồng.

Ngay tới lúc này khi mà sức nóng của vụ án đã nguôi bớt, việc nêu ra vấn đề quyền im lặng gắn với hai vụ trọng án nhiều người chết cũng khiến người dân cảm thấy nghi ngờ khó hiểu với cái gọi là chế định pháp lý văn minh tiến bộ này.

Sự kiện bùng nổ thông tin về hai vụ trọng án và tâm trạng nhận thức của người dân như thế, không khỏi làm nhiều người dao động xét lại về vấn đề quyền im lặng.

Vậy chẳng lẽ quyền im lặng chỉ áp dụng đối với những vụ ít nghiêm trọng, còn những nghi phạm giết nhiều người thì không được quyền im lặng?

Điều này đương nhiên là không đúng nhưng luận giải ra sao, tính khoa học và sức thuyết phục đến đâu sẽ giúp cộng đồng hiểu và đồng tình về quyền im lặng. Đây rõ ràng là thử thách lớn cần đối mặt và có lẽ là thử thách cuối cùng phải vượt qua đối với những ai ủng hộ quyền im lặng.

Do hiểu sai vấn đề

Vụ án 6 người chết ở Bình Phước xảy ra vào sáng ngày mùng 7 tháng 7, chỉ trong vòng 3 ngày, đến ngày 10 tháng 7 thì bắt được hai nghi phạm. Vụ án ở Nghệ An mất nhiều thời gian hơn, từ khi được phát hiện vào ngày mùng 2 tháng 7, hai tuần sau đến ngày 19 tháng 7 thì bắt được nghi phạm.

Ngay sau khi bắt cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai, mục đích xem nghi phạm có thừa nhận không và nguyên nhân động cơ mục đích nào dẫn đến phạm tội.

Vậy để xem nghi phạm có được quyền im lặng không ta hãy xét xem cái mục đích nêu trên có xác đáng không, từ đó xem việc lấy lời khai có phải là việc phải làm không thể thiếu được khi giải quyết một vụ án không?

Thứ nhất, về vấn đề lấy lời khai để xác định nguyên nhân động cơ mục đích phạm tội. Tôi cho rằng đang tồn tại một cách hiểu sai xung quanh vấn đề này và cách hiểu sai này tồn tại trong chính giới cán bộ tư pháp bao gồm cả luật sư và cộng đồng xã hội.

Tôi cho rằng việc xác định nguyên nhân động cơ mục đích gây án, đó là sự suy nghiệm của cán bộ điều tra nhằm mục đích khoanh vùng và xác định nghi phạm.

Cán bộ điều tra đứng trước hiện trường và các manh mối dấu vết, họ hình dung nhận định về nguyên nhân động cơ mục đích gây án để từ đó lần theo nghi phạm.

Ví như trong vụ án ở Bình Phước việc giết người từ ở ngoài cổng, ở tầng một lẫn phòng ngủ tầng hai (không phải nơi chứa tiền) cho thấy động cơ gây án vượt quá mục đích nhằm lấy tài sản. Việc giết hại hết những người có khả năng nhận diện hung thủ cho thấy có thể là người quen.

Việc đoán định nguyên nhân động cơ gây án như vậy cộng với các nguồn dữ liệu thông tin khác sẽ giúp cơ quan điều tra xác định nghi phạm.

Như thế, việc xác định nguyên nhân động cơ mục đích gây án có ý nghĩa ở giai đoạn trước khi bắt được nghi phạm chứ không phải là bắt được rồi mới hỏi xem nguyên nhân động cơ mục đích gây án là gì.

Vì khi đã bắt được rồi dựa vào mối quan hệ nhân thân giữa nghi phạm và nạn nhân thì dễ dàng nhận ra nguyên nhân động cơ mục đích đằng sau, việc xác định không còn khó nữa.

Nếu hiểu vấn đề như thế sẽ thấy bớt đi một lý do phải lấy lời khai.

Dựa vào đâu để kết tội?



Vấn đề thứ hai, có ý kiến cho rằng phải lấy lời khai xem nó có thừa nhận không để mà kết tội, chứ nó không khai thì làm sao kết tội được?

Tôi cho rằng dù nghi phạm chối cãi không nhận hoặc im lặng không trả lời thì vẫn có cơ sở để kết tội. Cơ sở để kết tội đó chính là những cơ sở bằng chứng đã giúp bắt được nghi phạm.

Vấn đề thứ hai, có ý kiến cho rằng phải lấy lời khai xem nó có thừa nhận không để mà kết tội, chứ nó không khai thì làm sao kết tội được? Tôi cho rằng dù nghi phạm chối cãi không nhận hoặc im lặng không trả lời thì vẫn có cơ sở để kết tội. Cơ sở để kết tội đó chính là những cơ sở bằng chứng đã giúp bắt được nghi phạm.

Những dấu vết bằng chứng nào đã giúp cơ quan điều tra xác định nghi phạm và bắt hắn, đó cũng chính là những bằng chứng để tòa án kết tội bị cáo.

Trong vụ án ở Bình Phước, đồng thời với việc bắt cơ quan điều tra đã khám xét chỗ ở của nghi phạm và thu giữ được một loạt vật chứng gồm điện thoại, laptop, quần áo mưa dính máu… Vậy sau khi xét nghiệm mẫu máu dính trên đồ vật đúng là máu nạn nhân và các thứ điện thoại, laptop cũng của nạn nhân thì đó là quá đủ chứng cứ để kết tội rồi.

Do vậy không cần nghi phạm phải khai báo nữa, hoặc cho nó quyền im lặng thì vẫn có thể kết tội. Các cơ quan tố tụng hoàn toàn có thể yên tâm mà phán rằng: Cho mày im lặng, dù mày có im lặng không khai thì vẫn có đủ cơ sở để kết tội mày.

Một ví dụ về vụ án khác cho thấy không cần phải lấy lời khai đó là vụ án xảy ra hồi tháng 4/2015 xảy ra ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Một người phụ nữ đã dùng dao chém chết ba bà cháu một gia đình hàng xóm, sự việc xảy ra có nhân chứng vật chứng rõ ràng.

Ngay sau đó hung thủ bị bắt và rõ ràng là vụ án này cho dù bị can được quyền im lặng thì vẫn có đủ cơ sở để kết tội và giải quyết được vụ án. Việc lấy lời khai để yêu cầu bị can khai ra nguyên nhân động cơ mục đích gây án là việc nên làm chứng không phải là việc không thể không làm để giải quyết vụ án.

Tóm lại là chính những dữ liệu bằng chứng đã giúp cơ quan điều tra xác định và bắt được nghi phạm, đó cũng chính là dữ liệu bằng chứng để tòa án kết tội bị cáo. Cho nên kể từ sau khi bị bắt, nếu bị can im lặng không khai thì cũng không phải việc điều tra giải quyết bị bế tắc không làm gì được.

Cũng cần lưu ý là lâu nay nhiều trường hợp bắt nghi phạm là dựa vào kết quả của các biện pháp điều tra đặc biệt như theo dõi, bí mật ghi âm ghi hình, nghe điện thoại bí mật, thu thập dữ liệu điện tử và sử dụng trinh sát hoặc cộng tác viên bí mật…

Cho nên khi chuyển những cơ sở giúp cho việc bắt đó thành bằng chứng sử dụng để kết tội thì cần có sự chuyển hóa tài liệu chứng cứ. Hiện Bộ luật tố tụng hình sự đang sử đổi cũng đã giúp xử lý vấn đề trên bằng cách đưa vào quy định về các biện pháp điều tra đặc biệt như vừa nêu.

Giết nhiều người vẫn được quyền im lặng

Như trên đã chỉ ra dù nghi can im lặng cũng không phải là bế tắc không giải quyết được án. Mặc dầu vậy vẫn nên lấy lời khai, việc đặt câu hỏi và chờ đợi phản ứng của nghi phạm cũng giúp thấy được nhiều điều.

Đừng quên là vấn đề quyền im lặng tồn tại trong ‘môi trường kết án’ có tính ‘đoán định’ và ‘phán xét’. Theo đó, đứng trước sự ‘đoán định’ thì ‘thái độ im lặng’ cũng cho thấy nhiều điều.

Nếu việc đặt câu hỏi là đúng mực không bức ép (vì đã có luật sư tham gia hoặc được ghi âm ghi hình lại) mà nghi phạm vẫn từ chối trả lời thì người ta có thể đoán định nghi phạm là thủ phạm.

Nếu nghi phạm không là thủ phạm thì không việc gì phải lo lắng mà cần hợp tác trả lời các câu hỏi để giúp cho việc điều tra phá án, giống như sự trả lời của một nhân chứng. Còn đứng trước các tình tiết dữ kiện được nêu ra và khi bị đặt câu hỏi lại ấm ớ không đưa ra câu trả lời được thì người ta sẽ nghi ngờ anh phạm tội.

Cho nên quy định về quyền im lặng không phải là khép lại cánh cửa của cơ quan điều tra, mà nó đơn giản là đòi hỏi một cung cách làm việc khác cần nhiều hơn về trình độ nghiệp vụ.

Quyền im lặng nói riêng và các quy trình thủ tục tố tụng hình sự nói chung là thành tựu của văn minh nhân loại (đã được thể hiện trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hợp Quốc) đã được đúc rút ra mà người ta hy vọng nếu cứ làm theo đó thì con người có thể đạt đến công lý.

Đối với những vụ trọng án như xảy ra ở Bình Phước và Nghệ An nêu trên, mặc dù chịu sức ép rất mạnh từ cộng đồng về việc phải tìm ra hung thủ, nhưng hoạt động điều tra phải tuân theo những nguyên lý giá trị đã được đúc kết, mà nếu không làm theo có thể dẫn đến oan sai.

Như ở Bắc Giang năm 2005 xảy ra vụ giết người và hiếp dâm trẻ em ở ngoài cánh đồng rất thương tâm. Cơ quan điều tra chịu nhiều áp lực đã bắt một người là Hàn Đức Long mà không có nhân chứng vật chứng, tới nay đã 10 năm và bị can vẫn kêu oan.

Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một luật sư đang sinh sống và làm việc ở Hà Nội.

Luật sư Ngô Ngọc Trai / Nguồn: Theo BBC Tiếng Việt

Shares

50 queries in 5.712 seconds.