Bảo Đại trao kiếm giả cho ‘cách mạng’?

Bảo Đại trao kiếm giả cho ‘cách mạng’?

Shares

Cây kiếm này được cho là ‘bảo kiếm’ được Vua Bảo Đại trao lại hôm 30/8/1945

Mùa thu năm trước Bảo tàng Lịch sử Việt Nam mang chuông sang gióng ở thủ đô Pháp.

Tám mươi hiện vật được chọn lọc và trưng bày tại Bảo tàng Guimet ở thủ đô Paris.

Triển lãm mang tên L’Envol du Dragon – Art royal du Vietnam’ tức ‘Thăng Long – Nghệ thuật Hoàng gia Việt Nam’.

Mang khoe nước người, muốn hóng cái khen, vơ tiếng nức nở nên đồ được cấp visa này không thể là loại tầm tầm. Nhiều thứ đẹp. Quảng cáo trang nhã.

Song có một hiện vật trái khoáy. Đó là một thanh kiếm rỉ đặt trong một góc khuất tệ hại.

1

Sử ghi Vua Khải Định là người tiên phong dùng gươm thẳng thay vì gươm cong

Lưỡi kiếm thẳng, lai hình mẫu kiếm Pháp, riêng chuôi và đốc kiếm chạm khắc hình tượng đầu rồng hoàng gia như chú thích -Bien que la forme de cette épée soit française, le décor associé des dragons aux motifs traditionnels du Vietnam impérial – ‘Hình dạng của thanh kiếm này giống kiếm của người Pháp, nhưng cách trang trí chạm khắc hình rồng theo mô-típ truyền thống của hoàng gia Việt Nam’.

Âu đến Á, ngay từ giai đoạn đồ đồng với chiều dài hàng nghìn năm cho đến nay, hình ảnh chiếc kiếm là biểu tượng về quốc gia, luật pháp, quân đội, dòng họ. Thế sao thanh kiếm độc hành được mang sang xứ người có tên “An dân bảo kiếm” này lại không biết của ai?

Rỉ đã là quá, lại vô chủ. Lò rèn kiếm cung đình hay những người nghệ nhân tâm huyết tạo ra vật trang sức thần quyền, trưng cái oai, khoe cái sang của một ông vua không lẽ bốc hơi không sót lại một góc chữ ư, mà để oai linh một thời trơ trỏng và vớ vẩn ra thế ?

Những hình ảnh lịch sử ghi nhận chỉ có vua Khải Định tiên phong sắm gươm thẳng, lệch gu với các vua tiền bối.

Vậy “An dân bảo kiếm” có phải là sở hữu riêng của vua Khải Định? Lăng vua ở Huế cũng phô một pho tượng bằng đồng thửa tại Pháp, cao 1m60 hệt người thật. Tượng đặc tả vua ăn mặc và trang sức ai cũng giống và không giống ai với gù vai nguyên soái kiểu châu Âu, huy chương Bắc đẩu bội tinh Pháp, thẻ bài, khăn đóng An Nam, dận ủng kỵ binh châu Âu thêu rồng. Kiếm vua đeo rất gần hình dáng chiếc kiếm có mặt tại bảo tàng Guimet. Khổ là tay trái vua trưng bốn chiếc nhẫn lại nắm đốc kiếm nên không biết đây có phải là “An dân bảo kiếm” hay không.

Thanh kiếm gỉ

Thú vị là cuộc tìm kiếm chủ nhân thanh kiếm rẽ vào một hướng bất ngờ.

Bảo tàng lịch sử Thừa Thiên-Huế cũng có một bức tranh mô phỏng cuộc chuyển giao quyền lực giữa vua Bảo Đại và phái đoàn Việt Minh tại Ngọ Môn ngày 30.8.1945.

Thanh kiếm vương quyền ngày tàn được vẽ là một thanh kiếm thẳng. Trong tâm niệm chung, kiếm thường có dạng cong, lưỡi đơn. Người hoạ sĩ thể hiện bức tranh lịch sử này đã căn cứ vào đâu để khôi phục lại hình ảnh đó? Dĩ nhiên phải có cội nguồn. Không ai dại phơi một bức tranh sai về chi tiết về sự kiện có một không hai đất cố đô, nơi quan trên ngó xuống, người ta xoi vào.

1

Kiếm được cho là một trong những vật được Vua Bảo Đại trao lại khi thoái vị

Tại Huế 70 năm trước có tới 50.000 người chứng kiến ngày mặt rồng thất thế. Song đến nay tịch chẳng ai trong số đó phản hồi về việc đúng hay sai những chi tiết trong tranh. Vậy “An dân bảo kiếm” có phải là thanh kiếm ông vua cuối cùng của triều Nguyễn đã trao cho phái đoàn Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận? Thanh kiếm tượng trưng quyền lực trong ngày thoái vị 70 năm trước của vua Bảo Đại cũng gỉ, lưỡi kiếm cũng thẳng.

Cù Huy Cận kể trong hồi ký về việc trao ấn và kiếm:

“Sau khi Bảo Đại đọc lời tuyên bố thoái vị, tới nghi thức trao ấn kiếm. Chiếc kim ấn truyền quốc làm bằng vàng ròng, nặng dễ đến ngót 10 kilôgam, anh Trần Huy Liệu vốn sức yếu phải gồng lên mới cầm nổi, còn tôi dĩ nhiên với cái tuổi 26 thì mươi cân cũng nhẹ nhàng thôi. Thú vị nhất là khi cầm cây kiếm, thấy vỏ ngoài dát vàng nạm ngọc rất đẹp, tôi thuận tay rút kiếm ra xem, ai dè bên trong lưỡi kiếm đã bị rỉ, tôi hồn nhiên nói ngay vào micro: “Thưa đồng bào, kiếm nhà vua rỉ hết rồi !…” Mọi người cười ồ. Bảo Đại cũng cười.”

Sau khi Bảo Đại đọc lời tuyên bố thoái vị, tới nghi thức trao ấn kiếm. Chiếc kim ấn truyền quốc làm bằng vàng ròng, nặng dễ đến ngót 10 kilôgam, anh Trần Huy Liệu vốn sức yếu phải gồng lên mới cầm nổi, còn tôi dĩ nhiên với cái tuổi 26 thì mươi cân cũng nhẹ nhàng thôi. Thú vị nhất là khi cầm cây kiếm, thấy vỏ ngoài dát vàng nạm ngọc rất đẹp, tôi thuận tay rút kiếm ra xem, ai dè bên trong lưỡi kiếm đã bị rỉ.. Trích hồi ký của Cù Huy Cận

Kiếm nào và ấn vàng nào được vua Bảo Đại chuyển giao ngày 30/8/1945? Xung quanh chuyện này có nhiều dị bản. Những ghi chép của Phạm Khắc Hòe, Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận, Nguyễn Hữu Đang, lời kể của Thứ phi Mộng Điệp cũng như tài liệu đã công bố của phía Pháp có nhiều mâu thuẫn.

Chuyện tướng Pháp François Jean Antonin Gonzalez de Linares loan báo việc tìm thấy ấn vàng và kiếm triều Nguyễn, chắc chắn không phải ấn kiếm đã được trao hôm 30/8/1945, sau ngày Toàn quốc kháng chiến tại Nghĩa Đô ngày 28.2.1952 rồi tổ chức trao lại cho chính phủ Bảo Đại hôm 8.3.1952 có thể được xem như một đòn chiến tranh tâm lý đánh vào sự ngây thơ, cả tin của dân chúng về những câu sấm, những cơ trời “Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về”. Chính ông Phạm Khắc Hòe cũng múa câu sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để khuyên Bảo Đại nhường ngôi. Có trận đánh nào ở vùng này mà lính Pháp đào công sự gần chùa? Lính đi càn gần Hà Nội đào công sự để chống xe tăng Việt Minh tháng 2 năm 1952? Sự nhanh nhẩu trong vòng chỉ một tuần tìm ra báu vật và trao lại, không biên bản thẩm định đó là ấn kiếm thật hay giả, cũng như sự vắng mặt của Bảo Đại trong ngày Pháp tổ chức trao trả giải thích ra sao?

Bằng chứng thuyết phục hơn cả về chuyện trao trả ấn kiếm chỉ là đòn tâm lý là chiếc ấn truyền quốc quý nhất, được chính Gia Long gọi là chiếc ấn truyền ngôi là Kim bảo ấn “Đại việt quốc Nguyễn Vĩnh Trấn chi bảo – 大 越 國 阮 主 永 鎮 之 寶” đúc ngày 6 tháng 12 năm 1709 do chúa Nguyễn Phúc Chu làm hiện là sở hữu của Bảo tàng Lịch sử Hà Nội. Tại sao?

Sách Đại Nam thực lục, do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn, chép lai lịch chiếc ấn: “Mùa đông tháng 12 ngày Nhâm Dần, đúc Quốc bảo. Sai Lại bộ Đồng Tri là Qua Tuệ Thư coi việc chế tạo. Năm ấy đúc xong, về sau liệt thánh truyền nhau lấy làm Quốc bảo. Đến khi Duệ tông Hiếu Định Hoàng đế (tức Chúa Nguyễn Phúc Thuần – Định Vương – 1765 – 1775) vào Nam, cũng đem ấn đấy đi theo. Duệ tông Hiếu Định Hoàng đế băng hà thì để lại cho Thế tổ Cao hoàng đế (tức là Nguyễn Thế Tổ – Phúc Ánh – 1802 – 1819).

1

Vua Bảo Đại (trong ảnh cùng Tướng Pháp Jean de Lattre de Tassigny hồi năm 1950 ở Buôn Mê Thuột) không có mặt trong buổi trao lại ấn kiếm năm 1952

“Bấy giờ binh lửa trên 20 năm, ấn ấy mất rồi lại tìm thấy nhiều lần. Mùa hạ năm Nhâm Dần, giặc (nhà Tây Sơn theo cách dùng văn từ của nhà Nguyễn) đánh Sài Gòn, Thế Tổ ra đảo Phú Quốc, điều khiển Ngô Công Quý mang ấn theo sau bị lạc. Đến khi Chu Văn Tiếp phá được giặc, rước vua hồi loan, Công Quý cũng từ Long Hồ đem ấn về hiến. Lại đến chiến dịch Ba Lai, quân Tây Sơn đuổi gấp, tòng thần theo vua mang ấn lội sông chạy, ấn rơi xuống nước, rồi người lội sau vướng chân chạm phải, lại mò được, đem hiến ở hành tại. Lại khi vua lánh giặc (chỉ nhà Tây Sơn) ra ngoài vụng đảo Thổ Châu, từ giá (mẹ vua) và cung quyến (vợ con vua) đều ở lại đảo, vua Xiêm sai tướng là Thát Xỉ Đa đem binh thuyền đến đón vua mời vào nước họ.

“Trong lúc thảng thốt, bụng dạ người Xiêm chưa lường được thế nào, vua mật sai tòng thần là Hựu đem ấn vượt biển lên bờ giấu kín. Khi vua đến thành Vọng Các, thấy vua Xiêm thết đãi rất cung kính, không có ý gì khác, vua mới sai người về đảo Thổ Châu để đón từ giá và cung quyến, tên Hữu cũng mang ấn ấy đi theo. Năm Gia Long, vua dụ Hoàng thái tử, tức Thánh tổ nhân Hoàng đế rằng: “Ấn báu này các đời truyền nhau, ngày xưa đã trải nhiều phen binh lửa, người chẳng chắc còn, mà ấn này vẫn cứ giữ trọn trước sau, chiếu văn và bổ dụng quan lại đều dùng ấn này, giữ tín trong nước, ai cũng hưởng ứng. Ấn này quan hệ với quốc gia không nhỏ, tức là ngôi báu trời cho vẫn có quỷ thần giúp đỡ, khiến cho ngọc bích của Triệu lại trở về. Vả lại nước ta liệt thánh nối nhau, chồng chất sáng hòa, hơn 200 năm, nay nhờ yêu dấu thiêng liêng mà thống nhất cả nước, phúc chứa vốn đã lâu đời… Huống là cái ấn Quốc bảo của tổ tiên ta để lại ư? Từ nay về sau nên lấy ấn này làm vật báu truyền ngôi. Con cháu ta phải đời đời để lại cho nhau, đừng làm mất đi mà truyền đến ức muôn năm dài lâu mãi mãi”.

Như vậy “Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo” ngay khi hai chúa Thế tổ nhà Nguyễn là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần và Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương bị Tây Sơn Nguyễn Huệ quây bắt và chém chết tháng 9/1777 tại Cà Mau, chỉ còn cháu trai của Nguyễn Phúc Lân là Nguyễn Ánh lúc ấy mới 14 tuổi trốn thoát sau này trở thành vua Gia Long mà ấn vẫn không bị mất và những lời Gia Long được ghi rõ chính sử Nguyễn nói thay giá trị của bảo vật triều đại này. Nó hiện nằm trong tay chính quyền tiếp quản chính thức nhà Nguyễn thì phải hiểu thế nào cho đúng ? Vua Bảo Đại từ bỏ ngai vàng trở thành công dân Vĩnh Thụy thì đương nhiên đúng theo nguyên tắc phải trao lại ấn này chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Không một chiếc ấn nào khác có đủ tư cách về giá trị pháp lý cũng như tuổi đời lịch sử và văn bản chính thống triều Nguyễn bằng Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo trong việc chuyển giao ngai vàng!

Chiếc ấn này là chiếc thứ hai có tuổi cao nhất của triều Nguyễn, sau chiếc ấn “An Nam quốc thiên hạ thống đô nguyên soái Thụy quốc công” đúc đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, niên hiệu vua Lê Dụ Tông ở Bắc Hà hiện còn ấn tích trong An Nam quốc thư gửi cho Shogun (tạm dịch là lãnh chúa) Tokugawa Kitanomaru được bảo quản tại Lưu trữ quốc gia Nhật bản cùng nằm trong Palais Imperial quận Chiyoda Tokyo.

Không một chiếc ấn nào khác có đủ tư cách về giá trị pháp lý cũng như tuổi đời lịch sử và văn bản chính thống triều Nguyễn bằng Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo trong việc chuyển giao ngai vàng!

Theo ông Paul Boudet (1888-1948) các vua Nguyễn có 46 chiếc ấn, phần lớn được chế tạo sau thời Minh Mạng. Danh mục Kim bảo tỷ triều Nguyễn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (bằng vàng, bạc, vàng pha đồng, bạc mạ vàng) là 44 chiếc. Sớm nhất là Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo (vàng 10 nặng 64,43 lạng), muộn nhất là Hoàng thái tử bảo (đúc năm 1939, vàng 10 nặng 63 lạng). Nặng nhất là Hoàng đế Tôn thân chi bảo (đúc năm 1827, Minh Mệnh, vàng 10 nặng 234,43 lạng) kế đến là Sắc mệnh Chi bảo (đúc năm 1827, Minh Mệnh, vàng 10 nặng 223,60 lạng).

Như vậy ngoài chiếc “An Nam quốc thiên hạ thống đô nguyên soái Thụy quốc công” còn dấu tích ở Nhật còn những ấn nào thiếu khác? Chiếc được cho là bị mất trong triển lãm năm 1961 ở Hà Nội và sau đó có thể đã bị nấu chảy là chiếc ấn nào? Ấn Bảo Đại mang sang Pháp được khoe “Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về” thực hư ra sao? Sự có mặt tại Hà Nội Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo với câu nói của Gia Long “Từ nay về sau nên lấy ấn này làm vật báu truyền ngôi. Con cháu ta phải đời đời để lại cho nhau, đừng làm mất đi mà truyền đến ức muôn năm dài lâu mãi mãi” có thể an ủi nhiều người rằng con cá to vẫn sờ sờ ra đấy mà không phải là con cá sổng. Chiếc ấn mà nhiều người cho là quốc ấn ông Bảo Đại thác lại cho bà Tây Monique Marie Eugène Baudot cũng chẳng mấy quan trọng. Ví như cái khất, cái nợ, như đồng tiền vay rồi không quỵt nổi, hối lại người khác máu đã cưu mang hùm thiêng ngày xa cơ. Mà Tây tìm thấy thì về lại trời Tây, như “cáo chết ba năm quay đầu về núi”.

Song chính vì thế câu chuyện trở nên rắc rối. Nếu đúng, mà phải đúng như thế tại sao Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo không được trưng bầy trong Bảo Tàng như chứng nhân ngày dòng chảy lịch sử đất Việt chuyển dòng cách đây đúng 70 năm ? Không một ai, không một dòng nào, không một người nào trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến sự kiện này chìa tay đưa nhân chứng lẽ ra có một không hai này ra ánh sáng. 70 năm tăm tối của Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo cộng thêm câu chuyện chiếc kiếm gỉ dẫn chúng ta đi về đâu. Nếu chiếc ấn này vắng mặt trong ngày thoái vị của vua Bảo Đại đồng nghĩa với việc chuyển giao ngai vàng là không thành thật và sự góp mặt của nhân chứng thứ hai là thanh kiếm gỉ củng cố thêm nhận định này.

Những góc khuất

Sự kiện Bảo Đại thoái vị ngày 30.8.1945 phải có những góc khuất

Nghi vấn đặt ra: kẻ nào dám trểnh mảng để quốc bảo mốc gỉ? Triều Nguyễn nổi tiếng hà khắc. Nguyễn Văn Thành là một thí dụ. Vì vỏn vẹn mấy vần thơ ngông của con trai mà khai quốc công thần này phò hai chúa Nguyễn từ thủa hàn vi, lập nhiều chiến công rường cột trong chiến tranh chống Tây Sơn còn bị bức tử, con trai trưởng Nguyễn Văn Thuyên lấy con gái vua Gia Long bị xử chém. Ông là tướng đi theo Định Vương Nguyễn Phúc Thuần từ năm 1773 lúc Nguyễn Ánh mới 11 tuổi, đánh trận từ Nam ra Bắc, đồng thời phụ trách biên soạn hai quyển sách quan trọng nhất của Triều Nguyễn là Hoàng Việt luật lệ (gọi Nôm là Luật Gia Long) và Quốc triều thục lục viết về chính sử nhà Nguyễn. Công lao lừng lẫy đánh trăm trận đến chức đại tướng rồi Thượng Công không được xét, chạy tới nắm áo vua van xin còn bị phủi tay, phải uống thuốc độc. Thế phường thấp cổ bé họng hưởng lộc Chúa há dám bỏ đồ thờ tự han rỉ, thân mọc ra được mấy đầu mà ghẹo gươm đồ tể ? Quàng cái tiếng người hầu trong cung đã đeo khoe rinh lên rồi thì chuyện được tuyển vào bảo quản đồ đạc thân thiết của vua chắc khối kẻ nhòm ngó, thậm chí chạy vạy để nương cái hơi cái bóng mà ngông với làng với xóm. Nhà nào lọt sàng xuống nia tót qua cửa cung được kén chùi đồ ngự bảo chắc phải lấy làm đắc ý, không có bụi cũng tìm ra để quét thì kiếm vua rỉ đến cốt hẳn là chuyện đáng nói.

2

Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị cách đây 70 năm

Pages: 1 2 3

Đất Việt là nơi tự do bày tỏ ý kiến, không có chế độ kiểm duyệt. Rất mong nhận được ý kiến của độc giả.