Việt Nam mong chờ gì từ chính sách biển Đông của chính quyền Biden?

Chính quyền Trump tiếp tục trừng phạt các doanh nghiệp Trung Quốc

Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 5/1/2021 đã ký sắc lệnh hành pháp cấm các giao dịch với 8 ứng dụng có nguồn gốc từ Trung Quốc, trong đó có Alipay của Tập đoàn Ant, qua đó khiến căng thẳng với Bắc Kinh tiếp tục leo thang ngay trước thềm Tổng thống đắc cử Joe Biden chuẩn bị nhậm chức.

Sắc lệnh này yêu cầu Bộ Thương mại Mỹ xác định giao dịch nào sẽ bị cấm theo chỉ thị và cũng nhắm mục tiêu vào phầm mềm WeChat Pay và Ví QQ của Tập đoàn Tencent Holdings Ltd. Một quan chức cấp cao nói với phóng viên Reuters rằng động thái này nhằm hạn chế mối đe dọa từ các ứng dụng của Trung Quốc đối với người Mỹ, bởi các ứng dụng này có cơ sở dữ liệu người dùng lớn và có thể truy cập nhiều nội dung nhạy cảm.

Trong sắc lệnh của Tổng thống Trump còn có tên các ứng dụng như CamScanner, SHAREit, Tencent QQ và WPS Office. Sắc lệnh nhấn mạnh Mỹ phải thực hiện biện pháp quyết đoán nhằm vào những nhà phát triển hoặc kiểm soát các ứng dụng có mối liên hệ với Trung Quốc để bảo vệ an ninh quốc gia”.

Một quan chức Mỹ nói rằng dù sắc lệnh đưa ra khung thời hạn 45 ngày cho Bộ Thương mại để triển khai kế hoạch, song bộ này dự kiến sẽ thực hiện việc xác định các giao dịch bị cấm trước thời điểm 20/1/2021, khi Tổng thống Trump mãn nhiệm.

Động thái mới của chính quyền Mỹ từng làm nảy sinh nhiều tranh cãi trong nội bộ suốt một thời gian dài. Nhiều quan chức muốn nhanh chóng củng cố lập trường cứng rắn của Mỹ đối với Trung Quốc trên nhiều mặt trận trước khi Tổng thống Trump rời nhiệm sở. Tháng trước, Bộ Thương mại đã bổ sung hàng chục doanh nghiệp Trung Quốc, trong đó có nhà sản xuất chip điện tử SMIC và nhà sản xuất máy bay không người lái SZ DJI Technology, vào danh sách đen.

Ở một phương diện khác trong mối quan hệ Mỹ-Trung, giới chức Trung Quốc đang hy vọng rằng Tổng thống đắc cử Joe Biden sẽ “khôi phục sự bình thường” trong mối quan hệ Mỹ-Trung, và rằng sự ra đi của chính quyền Trump đang mở ra “một cửa sổ hy vọng mới”. Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị bình luận trong một cuộc phỏng vấn với Đài truyền hình CGTN: Quan hệ Trung-Mỹ đang bước sang một ngã rẽ mới và một cánh cửa hy vọng mới đang mở ra… Chúng tôi hy vọng rằng chính quyền tiếp theo của Mỹ sẽ quay lại cách tiếp cận hợp lý, nối lại đối thoại với Trung Quốc, khôi phục quan hệ song phương và tái khởi động hợp tác”.

Ông Vương Nghị cũng khẳng định chính sách của Bắc Kinh đối với Washington là “nhất quán và ổn định” và kêu gọi Mỹ tôn trọng chính quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông nói: Chúng tôi sẵn sàng cùng với Mỹ phát triển một mối quan hệ dựa trên phối hợp, hợp tác và ổn định. Cùng với đó, Mỹ cũng cần tôn trọng hệ thống xã hội và con đường phát triển mà người dân Trung Quốc đã lựa chọn”.

Trong chiến dịch tranh cử, Biden cam kết sẽ “cứng rắn” đối với hành vi lạm dụng thương mại và đánh cắp tài sản trí tuệ của Bắc Kinh, song không ít lần chỉ trích cuộc chiến thương mại mà Tổng thống Trump phát động nhằm vào Trung Quốc. Tuy nhiên, nhiều người vẫn cho rằng ông Biden sẽ có cách tiếp cận mềm mỏng hơn đối với chế độ cộng sản.

Việt Nam muốn gì ở Mỹ?   

Khi chính quyền của Tổng thống đắc cử Joe Biden xây dựng chiến lược về Biển Đông, một đối tác khu vực mà Biden rất cần lưu tâm là Việt Nam. Và có lẽ, một số vấn đề sẽ là mong muốn của Việt Nam mà chính quyền Biden cần lưu tâm.

Thứ nhất, mặc dù vẫn luôn tỏ ý không muốn làm mất lòng Trung Quốc, nhưng Việt Nam rất hài lòng với tuyên bố của Ngoại trưởng Mike Pompeo vào ngày 13/7/2020, trong đó khẳng định Mỹ sẽ không tôn trọng các yêu sách biển của Bắc Kinh đối với các thực thể ở quần đảo Trường Sa, bãi cạn Scarborough, bãi cạn Luconia và Natuna. Tuyên bố của ông Pompeo được đưa ra trùng thời điểm kỷ niệm 4 năm ngày Philippines thắng kiện Trung Quốc về vấn đề Biển Đông ở tòa trọng tài quốc tế.

Tuyên bố của Ngoại trưởng Pompeo phần nào trấn an Việt Nam rằng Mỹ đã lên kế hoạch hỗ trợ Hà Nội bảo vệ các yêu sách đối với quần đảo Trường Sa trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình. Đáng chú ý, Washington đặc biệt nhấn mạnh Bãi Tư Chính là một phần không thể chối cãi trong EEZ của Việt Nam. Hà Nội chắc chắn sẽ rất cảm kích nếu chính quyền Biden nhắc lại lập trường chính sách này. Tuy nhiên, Việt Nam chắc chắn mong muốn nhiều hơn thế, đặc biệt là ở quần đảo Hoàng Sa.

Thứ hai, Việt Nam đã lặng lẽ tán thành chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ vì chiến lược này có đường lối cứng rắn chống Trung Quốc ở Biển Đông và cho thấy ý định của Washington là duy trì sự hiện diện trong khu vực trong nhiều năm tới. Nếu chính quyền Biden giữ nguyên chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, điều đó có thể báo hiệu cho Hà Nội rằng Washington nỗ lực ngăn cản Bắc Kinh thực hiện các hành động như vậy và Mỹ sẽ trừng phạt Trung Quốc vì những vi phạm mới.

000_11Z1BK.jpg
Hình minh hoạ. Tàu sân bay USS Carl Vinson của Hải quân Mỹ thăm Đà Nẵng hôm 5/3/2018. AFP

Chắc chắn, việc Việt Nam ngầm ủng hộ chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ sẽ đi kèm một số lưu ý nhất định. Ví dụ, Việt Nam không muốn thấy quan hệ Mỹ-Trung đối nghịch đến mức buộc Việt Nam phải lựa chọn giữa hai cường quốc. Hà Nội nhìn chung cũng lo ngại về việc Mỹ gia tăng số lượng các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) ở Biển Đông. Dù Việt Nam ủng hộ việc thách thức các tuyên bố chủ quyền trên biển của Trung Quốc dưới sự bảo trợ của Công ước Liên hợp quốc về luật Biển (UNCLOS) và vì lợi ích duy trì một trật tự dựa trên luật lệ, Hà Nội cũng không muốn quá nhiều FONOP ở vùng biển xung quanh lãnh thổ mà họ kiểm soát. Tuy nhiên, Mỹ đôi khi lại làm như vậy. Trong tương lai, Hà Nội muốn chứng kiến các FONOP tiếp tục tập trung vào Hoàng Sa, khiến Trung Quốc không thể “tự tung tự tác” ở đó.

Thứ ba, việc hiện diện tại các diễn đàn quan trọng trong khu vực là một nhiệm vụ quan trọng của Mỹ ở Đông Nam Á. Thật không may, Mỹ có khá nhiều việc phải làm ở đây. Trong vài năm qua, chính quyền Trump đã không thường xuyên cử đại diện cấp cao tới Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), khiến các nhà lãnh đạo Đông Nam Á tức giận. Vai trò chủ tịch ASEAN của Việt Nam vào năm 2020 gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, song Hà Nội vẫn cố gắng tổ chức gần như tất cả các sự kiện. Tuy nhiên, trong năm thứ hai của nhiệm kỳ, chính quyền Trump đã cử Cố vấn an ninh quốc gia Robert OBrien tham gia sự kiện.

Nếu chính quyền Biden muốn cải thiện hình ảnh trong mắt Việt Nam và khu vực về vấn đề đó, việc cử các quan chức cấp cao – tốt nhất là đích thân tổng thống – tham dự các sự kiện này là rất quan trọng.

Thứ tư, có những cơ hội rõ rệt để Mỹ tăng cường hợp tác an ninh với Việt Nam. Chính sách quốc phòng 4 không, 1 tùy” của Hà Nội – trước đây là “3 không” đang hạn chế sự hợp tác, song chắc chắn vẫn có chỗ cho các hình thức hợp tác ít khiêu khích”. Ví dụ, Mỹ có thể hỗ trợ Việt Nam phát triển năng lực nhận diện trong lĩnh vực hàng hải để giúp Hà Nội hiểu rõ hơn những gì Trung Quốc đang làm ở Biển Đông. Các hình thức hợp tác an ninh phi truyền thống, như trong các lĩnh vực hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa hoặc tìm kiếm và cứu nạn, cho phép hai bên tiến hành các cuộc tập trận song phương, qua đó vẫn có thể giúp lực lượng vũ trang Việt Nam nâng cao các kỹ năng quan trọng. Hà Nội cũng hoan nghênh việc mua sắm các thiết bị tuần duyên từ Washington sau khi Mỹ chuyển giao các tàu tuần tra cũ lớp Hamilton cho Việt Nam. Chính quyền Biden có thể được hưởng lợi khi Việt Nam tích cực tìm kiếm sự hợp tác lớn hơn trong tương lai.

Cuối cùng, khi chính quyền Biden lên nắm quyền, họ có thể muốn xem xét tái hợp tác với Việt Nam để nâng cấp quan hệ đối tác toàn diện” Mỹ-Việt lên thành “đối tác chiến lược toàn diện”. Điều đó sẽ gửi thông điệp rõ ràng tới Trung Quốc rằng Việt Nam có sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Mỹ và có thể tăng cường hợp tác an ninh sâu rộng hơn. Các đồng minh và đối tác – cụ thể là “các đối tác cùng chí hướng” như Australia, Ấn Độ và Nhật Bản – có thể hỗ trợ Mỹ.

* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

Theo RFA