Vì sao quan chức cấp tỉnh giàu nhanh và có tài sản ‘khủng’?

Biệt phủ triệu đô của ông Phạm Hồng Hà cựu Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hạ Long

Các báo Nhà nước đồng loạt đưa tin rằng cựu chủ tịch thành phố Hạ Long có biệt thự sang trọng trên lô đất rộng khoảng 400 m2 mặt đường bao biển Hạ Long và, nếu ước tính theo thị trường hiện tại, thì nhà và đất ở đó có giá không dưới 170 tỷ đồng. Ngoài ra, ông còn có bốn chiếc xe hạng sang có trị giá hàng chục tỷ đồng, là tài sản ‘bề nổi’ cũng bị thu giữ để phục vụ công tác điều tra…

Ông Phạm Hồng Hà, cựu Chủ tịch thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, bị Cơ quan Công An khởi tố bắt giam hôm 14/5 khiến dư luận ‘xôn xao’ không chỉ vì lý do về tội ‘lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ’ theo Điều 356 Bộ Luật Hình sự, mà còn vì khối tài sản khủng của ông này.

Rõ ràng rằng việc một quan chức hành chính cấp thành phố trực thuộc tỉnh, tương đương cấp huyện, nhưng có khối tài sản ‘khủng’ như vậy là “chuyện động trời”. Con số 170 tỷ đồng mới chỉ là ước tính giá trị “bề nổi”, nhưng đã lớn hơn với mức thu nội địa vào ngân sách của huyện Đầm Hà (127 tỷ đồng), một huyện ven biển thuộc tỉnh Quảng Ninh có số dân gần 48.000 người!

“Lỗi hệ thống”

Nguyên nhân nào khiến quan chức cấp tỉnh giàu nhanh và có tài sản ‘khủng’? Đảng nhận định sự suy thoái tư tưởng đạo đức để phục vụ cho chính sách chống tham nhũng, nhưng đây là nguyên nhân chủ quan. Cũng không thể đổ lỗi cho thị trường được vì nó vận hành theo những quy luật khách quan, là động lực cho tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời có tác động tiêu cực từ những mặt trái của nó.

Bởi vậy, đây là “lỗi hệ thống”, cụ thể là cơ chế phân cấp phân quyền cho quan chức địa phương nhưng thiếu kiểm soát tha hoá quyền lực hiệu quả thông qua cơ chế công khai minh bạch và giải trình trách nhiệm.

Trước hết, quá trình Trung ương phân cấp, phân quyền cho địa phương, về bản chất là ‘tản quyền hay phi tập trung quyền lực khi công cụ điều hành và giám sát bằng kế hoạch hoá tập trung không còn phù hợp, nhưng bị che phủ bởi bề ngoài là sự uỷ quyền quản lý bởi Chính quyền trung ương, nhằm mục đích đáp ứng chuyển đổi thị trường. Tuy không được độc lập nhưng chính quyền tỉnh, thành đã được tự chủ tương đối để điều hành kinh tế xã hội ở địa phương.

Trong số bốn xe sang của ông Phạm Hồng Hà bị tịch thu có hai chiếc Lexus 

Quá trình này được thực hiện, khởi đầu “từ trên xuống dưới” và, nay những đòi hỏi quyền lớn hơn “từ dưới lên”, ngày càng nhiều địa phương muốn có “cơ chế đặc thù”, lúc đầu là “cơ chế thủ đô”, cho Hà Nội, thu chi ngân sách cho trung tâm kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, nay Nghệ An, Thanh Hóa cũng ‘đòi’ cơ chế riêng cho địa phương mình. Đã trở nên công khai và nhiều hơn những tít bài kiểu như “TP.Hồ Chí Minh cần 10 lít xăng, cho 8 lít thì làm sao đi tới nơi” như báo Tuổi trẻ đưa lời phát biểu của một Đại biểu Quốc hội TP.HCM và cho rằng TP cần đột phá hơn.

Quyền đi đôi với lợi, muốn có lợi phải có quyền. Mối quan hệ trung ương – địa phương đang thay đổi về nội dung và tính chất, từ đơn thuần hành chính sang thành quyền lợi, sau đó là tính tự chủ về kinh tế và chính trị, từ phục tùng trung ương sang thành đòi hỏi và thoả thuận.

Quá trình ‘tản quyền’ ngày càng nhanh khi nhu cầu chuyển đổi thị trường càng lớn và mang xu hướng tất yếu. Nghĩa là, về cơ bản, không thể dừng lại hay quay lại cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây. Tuy nhiên, cải cách thể chế đã không theo kịp thực tế chuyển đổi.

Các nhà cải cách, lãnh đạo và điều hành, đã, ‘cố ý hay vô tình’, hiểu ‘sai lệch’ về tính hai mặt của thị trường, khi coi nó chỉ là công cụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như một sự đảm bảo duy trì chế độ, và quan niệm rằng thị trường không phải là chủ nghĩa tư bản để ‘bảo vệ’ nền tảng ý thức hệ chủ nghĩa xã hội giáo điều.

Từ điểm xuất phát kinh tế thấp khi động lực kinh doanh được kích hoạt bởi thị trường, trước hết đã đánh thức tiềm năng đất đai, tài nguyên và lao động để sản xuất hàng hoá và tích luỹ tư bản để tăng trưởng nhanh chóng, khiến cho căn bệnh duy ý chí của chế độ phát tác rằng Đảng CSVN có thể lãnh đạo kinh tế thị trường bằng chính sách thực dụng trong bối cảnh toàn cầu hoá tương đối thuận lợi.

Tuy nhiên, cùng với thời gian dư địa tăng trưởng kinh tế đã cạn dần, tỷ lệ tăng giảm sút, trồi sụt trong bối cảnh kinh tế không còn thuận lợi như trước, cải cách chính trị không phù hợp, dẫn đến lạm quyền, “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” tràn lan, tự chống tham nhũng đòi hỏi chi phí cao, kém hiệu quả.

Các thể chế hiện có như Hội đồng nhân dân các cấp và dân chủ cơ sở không phát huy được vai trò và chức năng giám sát, vẫn mang tính ‘trang trí’, cơ cấu hình thức thay vì thực quyền, khiến biên chế bộ máy “đông nhưng không mạnh”. Một số ‘sáng kiến’ cải cách như “lồng thể chế nhốt quyền lực”, “minh bạch tài sản quan chức”, kiểm soát tài sản là cơ chế hữu hiệu để chống tham nhũng là quan niệm đúng, nhưng đã bế tắc trong môi trường tập trung quyền lực Đảng.

Quan chức giàu lên nhanh chóng, lộ rõ không chỉ ở trung ương mà còn ở địa phương, không thể giải thích được nguồn gốc đang là thực trạng nhức nhối không chỉ trong công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực mà còn là thách thức đối với cải cách thể chế nói chung. Chính sách phân cấp, phân quyền cho địa phương, cho các đơn vị sự nghiệp công lập là những nội dung lớn, quan trọng của cải cách chính trị.

Tuy nhiên, như phân tích ở trên, nếu nó không gắn với việc kiểm soát tha hoá quyền lực phù hợp và hiệu quả thì cải cách thể chế sẽ rơi vào bế tắc. Chống tham nhũng chỉ là giải pháp cấp bách thay vì cơ chế kiểm soát quyền lực bền vững lâu dài, cơ chế công khai minh bạch và giải trình trách nhiệm đối với quan chức hệ thống chính trị.

Phạm Quý Thọ