Vì sao người Nhật ám ảnh về việc đúng giờ?

Văn hóa đúng giờ được coi là một quy tắc cốt lõi giúp thúc đẩy Nhật Bản lột xác thành một xã hội hiện đại công nghiệp hóa.

Bộ trưởng An ninh Mạng Yoshitaka Sakurada. Ảnh: Kyodo.

Tháng trước Nhật Bản chấn động vì một vụ bê bối. Bộ trưởng An ninh Mạng và đảm trách Thế vận hội Olympics Tokyo 2020, Yoshitaka Sakurada, đi họp muộn ba phút. Các nghị sĩ phe đối lập cho rằng việc ông Sakurada đến muộn thể hiện sự tắc trách và họ đã phản đối bằng cách tẩy chay cuộc họp của ủy ban ngân sách quốc hội trong 5 giờ. Trước sức ép chỉ trích của dư luận, ông Sakurada phải công khai xin lỗi, theo SCMP

Không chỉ quan chức cấp cao mà các chủ doanh nghiệp, lãnh đạo tổ chức hay bất cứ người đứng đầu một bộ phận nào liên quan đến công việc ở Nhật Bản đều vô cùng coi trọng việc có mặt đúng giờ. 

Năm 2018, một chuyến tàu do công ty đường sắt JR-West vận hành rời bến sớm 25 giây khiến công chúng kịch liệt phản đối. Các cơ quan báo chí trong nước liên tục đưa tin về sự cố này theo hướng chỉ trích JR-West đã phạm lỗi lớn. 

“Sự bất tiện ghê gớm mà chúng tôi gây ra cho các khách hàng thực sự không thể bao biện”, đại diện công ty đường sắt công khai xin lỗi. 

Người Nhật, ngay từ thuở nhỏ, đã được dạy dỗ phải nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật giờ giấc. “Bố mẹ luôn nhắc nhở tôi rằng điều quan trọng là không được đi muộn, hãy luôn nghĩ đến những người bị gây phiền toái nếu tôi đến trễ hơn dự kiến, và tôi nghĩ điều đó đã ăn sâu vào máu”, Issei Izawa, sinh viên 19 tuổi, giải thích.

Kanako Hosomura, một bà nội trợ 35 tuổi sống ở tỉnh Saitama, tâm sự rất ghét bản thân mỗi khi chẳng may đi muộn, dù chỉ muộn một phút. “Tôi thích đến trước giờ hẹn hơn bởi vì thà tôi ngồi đợi người ta còn hơn bắt họ đợi mình”, Hosomura bày tỏ và cho biết thêm cô sẽ không kết bạn với những người thường xuyên đến muộn, gây phiền toái cho người khác. 

Tuy nhiên, không phải ai cũng thích ứng được với đặc điểm văn hóa này. Nhiều người cảm thấy quan niệm của người Nhật về chuyện đúng giờ có phần cực đoan. “Bạn gái tôi làm việc ở trung tâm tiếp nhận thông tin qua điện thoại của công ty đường sắt JR. Tuần trước, cô ấy quay trở lại làm việc sau một kỳ nghỉ và sếp trực tiếp đã cảnh cáo: ‘Cô đến muộn 10 giây!'”, một người đàn ông giấu tên tiết lộ. “Quá cực đoan”, anh này cảm thán. 

Nỗi ám ảnh về việc đúng giờ của người Nhật khiến người nước ngoài tò mò và thích thú, thậm chí đây được coi là một trong những điều kỳ quặc thú vị nhất ở đất nước mặt trời mọc.

Nhân viên công ty đường sắt JR-Railway căn giờ tàu khởi hành. Ảnh: SCMP.

Trên thực tế, việc đi làm muộn thực sự gây ảnh hưởng đến nền kinh tế. Báo cáo Heathrow Express xuất bản năm 2017 cho thấy thói quen đi làm muộn gây thiệt hại 11,7 tỷ USD cho nền kinh tế Anh. Hơn một nửa số người tham gia khảo sát cho biết họ thường xuyên đi làm và đến các cuộc gặp trễ. 

Tương tự, ở Mỹ, việc đi muộn khiến nền kinh tế bị thiệt hại. Ví dụ những người lao động hay đi làm muộn khiến bang New York mất 700 triệu USD mỗi năm, trong khi đó, con số này ở bang California là 1 tỷ USD, theo báo cáo năm 2018 của tạp chí Inc. 

Văn hóa đúng giờ ở Nhật Bản chỉ bắt đầu từ đầu thế kỷ 19. Trước thời kỳ công nghiệp hóa, người Nhật khá thoải mái với chuyện giờ giấc. Năm 1868, Thiên hoàng Minh Trị tiến hành cuộc Minh Trị Duy Tân, mở ra kỷ nguyên hiện đại hóa đất nước. Willem Huyssen van Kattendijke, một thủy thủ người Hà Lan, đến Nhật Bản vào những năm 1850, miêu tả trong nhật ký rằng người dân địa phương không bao giờ đến đúng giờ. “Sự ung dung của người Nhật thực sự gây ngạc nhiên”, ông này cho biết các chuyến tàu thường đến muộn tầm 20 phút. 

Trong giai đoạn cải cách Minh Trị từ năm 1868 đến 1912, Nhật Bản áp dụng hàng loạt cải cách chính trị, kinh tế và xã hội, dẫn đến thói quen đúng giờ trở thành một trong những đặc điểm văn hóa nổi bật, theo nghiên cứu của tập san chuyên ngành Xã hội, Công nghệ và Khoa học Đông Á do đại học Duke xuất bản năm 2008. Văn hóa đúng giờ được coi là một quy tắc cốt lõi giúp thúc đẩy Nhật Bản lột xác từ một đất nước nông nghiệp thành một xã hội hiện đại công nghiệp. 

Trường học, nhà máy và hệ thống tàu hỏa đi đầu cổ xúy văn hóa đúng giờ. Các nhà máy áp dụng thuyết Taylor, hệ thống quản lý giúp nâng cao hiệu quả và năng suất lao động dựa trên dây chuyền lắp ráp, vốn phụ thuộc vào sự phối hợp chính xác và nhịp nhàng giữa các bộ phận.

Thời kỳ này, đồng hồ đeo tay trở nên thông dụng, khái niệm 24 giờ mỗi ngày phổ biến với người dân bình thường. Theo nhà nghiên cứu về thời gian Ichiro Oda, đây là giai đoạn người Nhật nhận ra “thời gian là tiền bạc”. 

Đến những năm 1920, đúng giờ trở thành khẩu hiệu quốc gia. Những tấm poster hướng dẫn phụ nữ chỉnh kiểu tóc trong 5 phút và chỉ mất 55 phút để làm tóc cho những sự kiện đặc biệt quan trọng. Làm sao để hoàn thành công việc trong thời gian ngắn nhất và luôn đúng giờ trở thành một phần quan trọng của quá trình hiện đại hóa và công nghiệp ở Nhật. 

Kể từ đó, người Nhật gắn thói quen đúng giờ với hiệu suất công việc ở các công ty và tổ chức, theo Makoto Watanabe, phó giáo sư về truyền thông tại đại học Hokkaido Bunkyo. “Nếu công nhân đi làm muộn, công ty và các tổ chức sẽ hứng chịu thiệt hại”, chuyên gia này nói. “Cá nhân mà nói, nếu tôi không đến đúng giờ, tôi không thể hoàn thành hết tất cả các đầu việc tôi cần làm trong ngày hôm đó”. 

Theo nữ giáo sư Mieko Nakabayashi nghiên cứu xã hội học tại đại học Waseda, người lao động luôn cảm thấy áp lực phải thể hiện bản thân là người kỷ luật và đúng giờ giấc. “Nếu anh không thể làm được như vậy, anh sẽ sớm mang tiếng xấu trong công ty”, bà Nakabayashi, từng là nghị sĩ của đảng Dân chủ, nhận xét. 

Nhân viên văn phòng ở Tokyo. Ảnh: SCMP.

Tuy nhiên, bà Nakabayashi phản biện đúng giờ không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với làm việc năng suất. Năm 1990 xảy ra một thảm kịch gây chấn động tỉnh Hyogo. Một nữ sinh 15 tuổi chết thảm vì cố gắng lách mình qua khe cửa hẹp khi cánh cổng trường đang đóng vào đúng 8h30 sáng. Giáo viên ấn nút đóng cổng trưởng sau đó bị sa thải. Sự việc làm dấy lên tranh cãi gay gắt trong dư luận suốt một thời gian dài. 

“Thời đó, chuyện đóng cổng trường đúng giờ rất phổ biến, và hình thức phạt học sinh đi muộn chạy vài vòng quanh sân trường cũng không phải là lạ”, Yukio Kodata, 33 tuổi, một người Canada gốc Nhật từng trải qua thời kỳ thơ ấu ở Nhật cho biết. Theo anh này, nhà trường ghi việc đi muộn vào học bạ và những học sinh hay đi muộn sẽ khó vào đại học. 

Chuyện đi làm đúng giờ cũng không phải là yếu tố dẫn đến hiệu suất làm việc tốt. “Các buổi họp thường kéo quá dài, đa số mọi người không thực sự đóng góp ý kiến gì hữu ích, và các đầu việc cứ lặp đi lặp lại nhàm chán. Ngồi vào bàn làm việc vào đúng 9h sáng mỗi ngày không giúp tạo sự khác biệt thực sự đối với đại cục”, nữ giáo sư xã hội học Mieko Nakabayashi tại đại học Waseda, nhận xét. Hầu hết các công ty ở Nhật yêu cầu nhân viên làm việc ngoài giờ 80 tiếng mỗi tháng mà không được trả lương, theo một báo cáo năm 2016. 

Điều quan trọng nhất, văn hóa đúng giờ cực đoan và không có quy định rõ ràng về làm việc ngoài giờ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người lao động, theo anh Kodata. 

“Ở Nhật Bản, người ta quan niệm rằng tất cả mọi người đều đang làm vậy, mình cũng phải làm vậy. Và thế là anh mắc kẹt”, người đàn ông Canada gốc Nhật nói nhiều bạn bè di cư từ Nhật sang Canada không bao giờ muốn quay trở về quê nhà. Dù thích ẩm thực và các hình thức giải trí ở Nhật, họ không muốn quay trở về làm việc. 

“Điều buồn cười là ở Canada, anh tan sở lúc 5h chiều có nghĩa là “Chào nhé, công việc kết thúc ở đây, hẹn gặp lại sau!’ Khác hoàn toàn ở Nhật”, anh Kodata so sánh. 

Theo VnExpress

SHARE