Thế Chiến 2: Số phận hàng vạn quân Ba Lan trong Wehrmacht

Ở Ba Lan, các chỉ huy cấp địa phương (gauleiter) ở vùng biển Pomerania và Silesia, trước sức ép tuyển quân từ Berlin, đã vứt bỏ luôn tiêu chuẩn ‘chủng tộc Đức’.

Từ 1943, rất nhiều người Ba Lan thuần tuý nhất cũng bị cưỡng bức vào quân đội Đức.

Phản kháng lại có thể bị tử hình, hoặc hình phạt là cho cả nhà vào trại tập trung.

Tuy thế, các sử gia Ba Lan nay nêu lại nhiều vụ việc ‘bất thường’ cuối Thế Chiến 2, khi mà lễ ra quân của quân đội Đức ở nhiều vùng của Ba Lan bị chiếm đóng được tổ chức với ban nhạc Đức, và lời hát hùng tráng…bằng tiếng Ba Lan.

Đơn giản vì rất nhiều tân binh không hề biết tiếng Đức.

Con số không nhỏ, theo ông Wojciech Zmyślony, đã dùng tên Đức thay cho tên Ba Lan khi nhập ngũ: Henryk trở thành Heinrich, Karol – Karl, Kazimierz – Kasimir, Pawel – Paul. Đôi khi họ Ba Lan như Kaczmarek được ghi theo tiếng Đức là Katschmarek.

Vì nước Ba Lan đã bị xóa sổ, quân đội Đức không công nhận trong hàng ngũ của họ có người Ba Lan.

Trái lại, Đức dùng tên các vùng đất từng thuộc Ba Lan để xác định lý lịch quân lính, ví dụ, Schlesier (Silesia); Westpreußen (vùng biển Pomorze); aus Wartheland (Wielkopolska)…

Trong Thế Chiến 2 đã có nhiều trường hợp người Ba Lan trong quân đội Đức khi về phép đã mang theo súng và bỏ trốn, gia nhập các nhóm du kích chống Đức.

Tuy vậy, con số đông đảo sống chết với quân ngũ, bị thương, bị giết trong các chiến trường, ở cả ba quân binh chủng Bộ binh, Hải quân và Không quân của Đức.

Chia rẽ và chia cắt sau chiến tranh

Về quân đội Ba Lan, sau khi thua trận năm 1939, lực lượng này rút sang Liên Xô và Romania.

Nhóm ở Liên Xô bị bắt giữ và hơn 20 nghìn sỹ quan bị đặc vụ Stalin thảm sát ở Katyn.

Số còn lại bị bỏ tù đến tháng 9/1941 rồi được Stalin thả ra để gia nhập Lực lượng Vũ trang Ba Lan ở Liên Xô do tướng Wladyslaw Anders chỉ huy.

Theo một thỏa thuận của chính phủ Ba Lan đóng tại London với Stalin, tướng Anders được tiếp nhận tù binh người Ba Lan bị Liên Xô bắt.

Nhờ thế, đến cuối năm 1942, lực lượng Ba Lan tại Liên Xô có tới 77 nghìn quân, gồm con số đáng kể là tù binh từ quân đội Đức nhưng là người Ba Lan.

Czeslaw Knopp, một quân nhân như thế đã viết lại cuốn sách ‘Từ Stalingrad đến đội quân Anders’.

Ông mô tả hành trình từ trận Stalingrad khi ông còn mang quân phục Đức, tới chỗ gia nhập quân của Tướng Anders, rời Liên Xô sang Iran và đến Tây Âu.

Như thế, người Ba Lan trong Wehrmacht đã có mặt cả ở hai chiến trường Đông và Tây.

Tài liệu của Anh nói từ 1940 đến 1945, quân Đồng Minh đã bắt được 68 nghìn tù binh Đức nói tiếng Ba Lan.

Trên 50 nghìn đã nhanh chóng xin gia nhập quân đội Cộng hòa Ba Lan (không cộng sản) bên cạnh quân Pháp, Anh, và Mỹ ở Tây Âu để đánh Đức.

Rokossovsky
Ngày chiến thắng ở Berlin tháng 7/1945: từ trái sang: Nguyên soái Ba Lan Konstantin Rokossovsky (cộng sản), Thống chế Bernard Law Montgomery (Anh) và Nguyên soái Liên Xô Georgy Zhukov

Thế Chiến 2 kết thúc lại tạo ra một bước ngoặt nữa trong cuộc đời những người này.

Đài Deutsche Welle cho hay sau khi Đức thua trận, hàng vạn lính Wehrmacht gốc Ba Lan đã chạy sang Tây Đức tìm cách định cư.

Họ sợ trở về quê cũ hoặc rớt lại ở vùng Liên Xô chiếm đóng sẽ bị trả thù tàn khốc.

Cùng họ, ước tính có tới 12 triệu dân thường (có nguồn nêu 15 triệu) là người thiểu số Đức hoặc ủng hộ Hitler, đã bỏ chạy hoặc bị trục xuất khỏi Đông Âu.

Đế chế Hitler tan rã và nhưng bi kịch mất quê hương của dân ‘Volksdeutche’ mới bắt đầu, bất kể họ nhiệt tình theo chế độ Nazi hay chỉ là nạn nhân của thời cuộc.
Theo BBC