Tại sao phải xây đền Hùng ở Cần Thơ?

13
Chủ tịch nước CSVN Nguyễn Xuân Phúc khánh thành đền thờ vua Hùng ở Cần Thơ
Ý kiến nói sự lan rộng của những yếu tố huyễn tưởng về Hùng Vương là đáng lo về mặt văn hóa. Chúng xa lạ trong những bối cảnh văn hóa chúng hiện diện và tồn tại như những biểu tượng rỗng nghĩa.
Những ngày qua, báo đảng tràn ngập hình ảnh Chủ tịch nước CSVN Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Hà Nội Chu Ngọc Anh, cùng nhiều giới chức khác “thành kính dâng hương” tại đền Hùng.
Trong khi đó, một nhà quan sát đặt câu hỏi: Sự lan rộng của hệ thống đền Hùng có phải là một dấu hiệu của xâm thực văn hóa?

Ông Trương Trần Trung Hiếu, người viết nội dung cho các dự án văn hóa, nghệ thuật, phân tích:

“Một đền thờ vua Hùng mới được khánh thành tại thành phố Cần Thơ. Khối kiến trúc tẻ nhạt, xấu xí ấy là một dị vật hoàn toàn xa lạ với bối cảnh văn hóa, lịch sử của vùng đất Cần Thơ. Tại sao phải xây dựng đền thờ vua Hùng ở vùng đất không có một trải nghiệm văn hóa nào gắn kết với tín ngưỡng thờ vua Hùng?
Nhìn rộng ra, những yếu tố gắn với Hùng Vương và thời Văn Lang được nhân bản và rải giống khắp mọi nơi. Các hoa văn trống đồng được lặp lại khắp các công viên, đình, chùa đến nhà văn hóa và trở thành những biểu tượng rỗng nghĩa. Chúng đơn điệu về mặt tạo hình và trở thành vật thể xâm thực trong mỗi địa điểm chúng hiện diện.
Trong thời hiện đại, các phong trào “trở lại truyền thống” diễn ra theo nhiều chiều hướng, quy mô và nhận được các ứng xử khác nhau. Thờ cúng Hùng Vương được ca ngợi vì nó được bao phủ bằng một hệ thống truyền thông luân lý được bảo trợ chính thức. Tín ngưỡng thờ Hùng Vương vốn thuộc về một số địa phương cụ thể, với những màu sắc văn hóa, bối cảnh lịch sử và không gian địa lý cụ thể, nay được tách khỏi không gian, bỏ qua những đặc trưng tinh thần vốn có của nó và khuếch tán thành một “truyền thống” mới để nâng đỡ cho những thông điệp khuôn sáo về nguồn cội.
Đền Hùng ở Cần Thơ bị chê “có kiến trúc tẻ nhạt, xấu xí”
Khi đền Hùng được nhân bản hàng loạt
Eric Hobsbawm gọi những hiện tượng như thế này là “phát minh ra truyền thống”, để chỉ những truyền thống do các thể chế, tổ chức cố tình tạo dựng ra. Theo Hobsbawm, những truyền thống được phát minh này nhằm để truyền thông về tính đúng đắn của thể chế, cho họ một biểu tượng mà vin vào để bám sâu vào nhận thức cộng đồng, hợp lý hóa sự thống lĩnh và truyền tải những mô hình hành xử được kỳ vọng vào trong dân chúng.
Sự lan truyền của yếu tố Hùng Vương là một chiến dịch truyền thông nhằm khắc sâu ý thức về một tổ tiên chung [huyễn tưởng], một tình cảm ái quốc mang màu sắc chủ nghĩa dân tộc, và dần dần loại thải mọi ý tưởng khác về nguồn gốc để trở thành câu chuyện duy nhất, độc tôn và phủ quyết sự đa dạng.
Cần tách đôi giữa tín ngưỡng thờ Hùng Vương như một thứ tình cảm tự nhiên, và diễn ngôn về Hùng Vương như truyền thông mang tính tạo dựng của các thể chế. Cái tôi chỉ trích là cái thứ hai. Điểm qua một chút về sự phát triển của diễn ngôn quốc tổ Hùng Vương, để thấy rằng Hùng Vương là một thực thể linh động, luôn được kiến tạo và tái kiến tạo qua mỗi thời kỳ lịch sử.
Chủ tịch nước CSVN Nguyễn Xuân Phúc mang vòng hoa tang đến giỗ tổ ở đền Hùng, tỉnh Phú Thọ
Cuối thời Nguyễn có những thông điệp đầu tiên nhằm biến những huyền sử trước đó về Hùng Vương trở thành tín ngưỡng quốc gia, sau đó bị gián đoạn trong thời thuộc địa. Sau năm 1954, hai thế chế ở hai miền Bắc Nam đều có những ứng xử để kiến tạo bản sắc dân tộc, và huyền sử Hùng Vương là lựa chọn hàng đầu. Bức tranh của họa sĩ Trọng Tạo trong Dinh Độc Lập cho thấy hình dung của miền Nam về Hùng Vương, trong tạo hình chuẩn mực của triều đình phong kiến Đông Á.
Những bằng chứng khảo cổ ở miền Bắc góp phần phác thảo lại hình ảnh Hùng Vương quấn khố, đội mũ lông chim, và hình tượng này sẽ được nhân bản rộng rãi cho đến tận hiện tại. Hùng Vương dần dần được quảng bá ở tầm mức quốc gia, và những thông điệp đạo đức được lặp đi lặp lại mỗi mùa xuân, mỗi mùa giỗ tổ. Càng được lặp lại thì càng trở nên chân thật, đến mức trở thành rất thật và khắc sâu những thông điệp ý thức hệ vào trong dân chúng. Nói theo cách của Hobsbawm thì truyền thông về Hùng Vương là một công cụ lan truyền ý thức hệ.
Về mặt lịch sử, cần hoài nghi huyền sử, đối chiếu sử liệu và tư liệu khảo cổ học. Về mặt xã hội, cần quan sát cách huyền sử được sử dụng như phương thức truyền thông trong những chương trình kiến tạo bản sắc quốc gia, điều đó có nghĩa là đặt diễn ngôn về Hùng Vương trong một sự hoài nghi lành mạnh.
Không có cái gọi là trở về với truyền thống, những nỗ lực “trở về” thực ra là những sáng tạo mới, để phản ứng với những hoàn cảnh hiện đại, để quản trị cảm xúc công cộng trong xã hội. Quan sát phản ứng đó cho phép ta hiểu về hoàn cảnh hiện đại.
Cuối cùng thì sự lan rộng của những yếu tố huyễn tưởng về Hùng Vương là đáng lo về mặt văn hóa. Chúng xa lạ trong những bối cảnh văn hóa chúng hiện diện và tồn tại như những biểu tượng rỗng nghĩa. Cuối cùng thì bất cứ cái gì được nhân bản hàng loạt cũng sẽ sản sinh ra một hệ thống vô nhân vị không dung dưỡng cho một mối quan hệ tinh thần nào.”