Ông Nguyễn Phú Trọng liệu có ‘ảo tưởng’ về giáo dục nước nhà?

0
212
Chiều 3.11, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc gặp gỡ 55 học sinh, sinh viên tiêu biểu xuất sắc năm học 2017-2018. Trong buổi gặp, người đứng đầu đảng và nhà nước tái khẳng định: nhìn tổng thể giáo dục của chúng ta chưa bao giờ được như bây giờ.
Nếu đặt câu nêu trên vào trong câu nói, ‘nhìn tổng quát, đất nước có bao giờ được thế này không?’ thì có vẻ sẽ không sai theo nguyên tắc và tư duy của ông Tổng. Nhưng nếu nhìn từ trong thực tiễn, thì câu nói này hàm chứa một sự trịch trượng và thiếu thực tế.
Ông TBT – CTN cho răng, trong 1.000 trường đại học nổi tiếng trên thế giới, Việt Nam đóng góp hai trường. Có lẽ, ông Nguyễn Phú Trọng lấy dữ liệu từ tổ chức xếp hạng QS (London) công bố kết quả xếp hạng top 1000 đại học xuất sắc nhất thế giới vào tháng 6 vừa qua, với 85/197 quốc gia được xướng tên, trong đó Việt Nam lần đầu tiên có 2 đại học góp mặt, bao gồm ĐHQG Hà Nội (VNU-HN) và ĐHQG TP. HCM (VNU-HCM). Sở dĩ 2 trường này được nằm tóp 1.000 (thực ra là chỉ ở mức 701-750 với VNU-HCM; và 801-1000 với VNU-HN) vì cả 2 trường này có một lợi thế cực kỳ lớn mà không có trường nào qua mặt được: sự chu cấp về ngân sách cũng đây là một tổ hợp các trường nằm bên trong. Chính vì thế, nếu xét tiêu chí về nghiên cứu, giảng viên thì gần như là một lợi thế tuyệt đối với so các trường ĐH còn lại ở Việt Nam, và đây chính là lý do vì sao, cả hai trường lọt top 1.000.
Vậy nếu so với các nước Đông Nam Á khác thì sao? Việt Nam với dân số cận 100 triệu dân, nhưng thua kém nhiều về số trường đại học góp mặt trong top 1.000. Cụ thể, với Singapore thì có 3 (2 xếp top 20; 1 xếp top 400); Malaysia có 9; Philippines có 4 (top 300-800); Indonesia có 9; Thai Lan có 8.
Tất nhiên, sự góp mặt của hai trường đại học vào top 1.000 sau 43 năm (1975-2018) với nhiều đợt cải cách ở một khía cạnh nào đó cũng đáng ghi nhận, ít nhất là sự nỗ lực trong quá trình đào tạo và nghiên cứu của hai trường nêu trên. Nhưng gần ½ thế kỷ phổ cập nền giáo dục XHCN trên toàn lãnh thổ, với hai trường ĐH liệu có cần phải nâng cao quan điểm đến mức ‘chưa bao giờ được như bây giờ’? Một cách nói có thể hiểu rằng, nền giáo dục Việt Nam dưới thời kỳ trị vì của TBT Nguyễn Phú Trọng ‘sáng rực rỡ’ nhất so với các thời kỳ? Đó là chưa kể, mặc dù góp mặt vào 1.000, nhưng vị trí đứng còn khá thấp so với các quốc gia trong khu vực.
Tiếp đó, một nền giáo dục tốt phải là sự tổng hòa giữa các cấp học hơn là chỉ dựa vào cấp ĐH. Đó là chưa kể, để đánh giá một trường ĐH thực sự tốt hay không, phải dựa vào số  lượng bài báo quốc tế ISI/SCOPUS sở hữu, thế nhưng, với hai trường lọt top nêu trên, trong một bản đánh giá các trường ĐH gần đây, chỉ cho thấy, cả hai trường đều đứng sau trường ĐH tư là ĐH Tôn Đức Thắng.
Ngoài ra, mục đích của nền giáo dục nước nhà trong thời kỳ hội nhập cũng nên được đánh giá qua sự đóng góp của chính nó vào đời sống thế giới. Tuy nhiên, theo trang Good Country Index (tạm dịch: Chỉ số quốc gia tốt) được tiến hành bởi Simon Anholt – một cố vấn chính sách độc lập, thì thứ hạng Việt Nam đóng góp ở các lĩnh vực không cao, cụ thể: khoa học và công nghệ ở 128/163 nước; đóng góp cho văn hóa 102/ 163 nước; đóng góp cho trật tự thế giới 158/163 nước; đóng góp cho hành tinh và khí hậu 141/163 nước. Điều này cho thấy, tác động của giáo dục trong đời sống nội tại con người và sự góp phần của giáo dục cho các thành tựu của nhân loại gần như không có, nhất là mảng khoa học và công nghệ (dựa trên số lượng sinh viên quốc tế; số lượng ấn phẩm/ tạp chí khoa học, báo chí theo ITC; số ấn phẩm quốc tế được công bố theo SCImago; giải Nobel; bằng sáng chế theo WIPO) – một mảng trụ cột của nền kinh tế trí thức, hay nói theo ngôn ngữ của Việt Nam là trụ cột của cuộc cách mạng 4.0 gần như đội sổ.
Một lập luận thường hay ‘bảo hộ’ cho quan điểm ‘được thế này bao giờ chưa’ của ông TBT – CTN Nguyễn Phú Trọng là so sánh với quá khứ, thường dẫn sự kiện 90% dân số mù chữ (trước đây) và khả năng được tiếp cận internet của người dân hiện nay. Nhưng cách so sánh này là không mang tính cân bằng, mà càng cho thấy tính chất lý luận không chạy theo phát triển, bởi nếu đã đặt ra tính chất thành tựu và tự hào, thì buộc phải so sánh cùng thời, so sánh với các quốc gia trong khu vực, thay vì so sánh với quá khứ rồi tự ôm lấy luận điểm ‘lãnh đạo tài tình của đảng ta’.
Còn trong thực tiễn, một Bộ GD&ĐT với nhiều tai tiếng liên quan đến đề án cải cách và những số tiền nhầm lẫn lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng; một Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đạo văn, phát ngôn bừa bãi, và không được người dân lẫn ĐBQH tín nhiệm những vẫn quyết không từ chức; tiêu cực trong kỳ thi các cấp, đặc biệt là THPT liên tục xảy ra, mới đây nhất là ở Hà Giang, Sơn La, Lạng Sơn nhưng kết quả là sau khi ‘thí tốt’ lại chìm xuồng,… Và dường như, trong các tình huống tiêu cực liên quan đến nền giáo dục, đều không thấy sự hiện diện của ông Nguyễn Phú Trọng.
Những phát biểu nêu trên đã cho thấy, ở ông Nguyễn Phú Trọng dường như thiếu một sự sâu sát trong vấn đề chỉ ra tiêu cực của giáo dục quốc gia, mà còn tồn tại cả sự ảo tưởng về nền giáo dục và vị thế của nước nhà. Ông căn cứ nhiều vào báo cáo hoặc bài báo mà không nhận ra tính có vấn đề trong việc xếp hạng, cũng như thực tiễn của nền giáo dục.
Nếu đặt ngược lại câu nói của ông Trọng về ‘Giáo dục của chúng ta chưa bao giờ được như bây giờ’, thì câu trả lời tốt nhất là nền giáo dục hiện nay mang tính chắp vá, thối nát và luồn cúi. Như trong bức ảnh mà ông bắt tay với một sinh viên, và người sinh viên đó cong người một cách bợ đỡ.
Theo Việt Nam Thời Báo
SHARE