Nho sĩ Annam và Đảng sĩ Nguyễn Phú Trọng

Nho sĩ Annam tự hào và thích thú với “móng tay dài” không khác nhiều lắm với một Đảng sĩ Nguyễn Phú Trọng “tự hào và thích thú” với chủ nghĩa Mác-Lenin.

Trong một bức ảnh về thời Đông Dương thập niên 1920 (TK XX), ghi nhận nho sĩ Annam với móng tay dài, và đó là niềm tự hào và thích thú của ông ta.
Ngày nay, nhìn một người để móng tay dài có thể được coi là vướng víu không cần thiết, một sự kỳ dị, và chẳng thể là niềm tự hào khi mà nó hạn chế khả năng lao động. Nhưng vào thời đó, đây được coi là “quý tộc” bởi không thể lao động, và tất nhiên, nguồn gốc của tục để móng tay dài xuất phát từ Trung Quốc.
Nho sĩ là người có học, là người thuộc tầng lớp trí thức trong xã hội phong kiến. Tầm nhìn của vị nho sĩ này là tầm nhìn hướng Trung, nơi ông ta phải quỳ sụp trước Khổng miếu – người được suy tôn “vạn thế sư biểu” (bậc thầy của muôn đời).
Vào cái thời kỳ mà vị Nho sĩ Annam trên để móng tay dài, thì đây cũng là thời kỳ mà Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu,… vẫn đang tích cực vận động dân quyền, đẩy lùi phong kiến và kiến thị văn minh – nhân bản bên ngoài. Có thể, “quý tộc Annam” nhìn những “nhóm người cổ súy dân quyền” như những trò hề, những người đi ngược truyền thống – tập tục nghìn năm của dân tộc, và là những con người hủ bại. Đi ngược lại với Nho giáo và tinh thần của Nho gia.
Sau gần 100 năm, không còn ai nhớ những “quý tộc móng tay dài” đó là ai, ngoài bộ móng được ghi nhận bởi máy ảnh. Họ bị thải loại khỏi lịch sử bới chính sự “tự hào và thích thú” rất đỗi thời cuộc của mình. Còn những con người “Duy Tân”, những con người “vị quốc vong thân” với lời thơ “Á Tế Á ca” lại được tưởng nhớ hằng năm và công trạng, tư tưởng dân quyền của họ vẫn tiếp tục có giá trị mở lối cho dân tộc trong tương lai.
Tại miền Bắc Việt Nam vào những năm đầu của thể kỷ XXI, một Đảng sĩ tên là Nguyễn Phú Trọng vẫn thao thao bất tuyệt về lý luận và chủ nghĩa Mác-Lenin, và có lẽ đó là niềm tự hào và là sự thích thú của chính ông. Ông ra hẳn bộ sách về “Đảng cầm quyền” và sự “trường tồn của dân tộc”, và hẳn nhiên đó là sự tự hào của ông ta. Ông ta nhìn về Trung Quốc, học cách đốt lò, lôi ra những thanh củi có nguy hại cho chính chế độ mà ông ta đang là con sói đầu đàn, và nghiễm nhiên ông ta “tự hào về chính ông”.
Mới đây, trong cuộc gặp với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ông Đảng sĩ cũng thích thú chia sẻ rằng, “Không ai thích thú gì kỷ luật. Kỷ luật chính là để cảnh tỉnh, răn đe, ai nhúng chàm thì sửa đi.”. Giọng điệu mang tính chỉ đạo của một bề trên này có thể một lần nữa khiến ông ta thích thú và tự hào về những gì ông ta làm được. Và nghiễm nhiên, đó là cách mà một Đảng sĩ cho rằng, nó sẽ kéo dài thời gian cầm quyền của Đảng, và đưa đất nước đến phồn thịnh hơn.
Đó là lý do người viết không dùng “sĩ phu bắc hà” để ám chỉ ông Nguyễn Phú Trọng, bởi suy cho cùng, ông ta cũng chỉ là một kẻ chỉ của một học thuyết, mà hướng nhìn của nó luôn về Trung Quốc. Mọi thay đổi, chuyển động từ Bắc Kinh đều được học tập và làm theo. Và trong cái chủ nghĩa, đảng nghĩa của ông ta học, chỉ là sự tuân phục và trung thành tuyệt đối.
Sĩ phu bắc hà là người có học hành hiểu biết, và phải có nhân cách hơn người, biết bảo vệ lẽ phải xã hội, và phải có tính nêu gương.
Đảng sĩ Nguyễn Phú Trọng luôn kêu gọi chống tham nhũng và đốt lò, nhưng đến nay, công khai tài sản (một cơ sở chống tham nhũng) của chính ông ta vẫn là con số 0 tròn trĩnh, và 30 tỷ mà ông tặng cho một CHDCND Lào để xây trường học được báo giới chính thống mô tả là “món quà riêng”, gây ra nhiều hoài nghi trong dư luận xã hội. 
Đảng sĩ Nguyễn Phú “thấy xót ruột” khi đạo đức xuống cấp, hay sự than phiền về tình trạng tham nhũng nhiều như “ngứa ghẻ” của ông thực tế là cách nói hình thức, bởi nói thực chất ông phải chỉ thẳng vào cái thể chế mà tuyên bố rằng: chính ngươi là nguồn gốc của mọi tội lỗi.
Và chỉ như thế thì ông mới biết làm gì tiếp theo tốt cho đất nước, cho dân tộc này.
Nhưng ông không làm thế, ông vẫn là một Đảng sĩ, một người tin rằng, tổ chức đảng của ông như con thuyền lớn, và bằng chiến dịch đốt lò cỏn con có thể khống chế được toàn bộ “tham nhũng và sự suy đồi” mang tính bản chất của thể chế. Ông tin, như chính các nho sĩ Annam từng tin rằng, Nho học vẫn là danh giá, và tinh thần Nho gia vẫn có thể khiến đất nước phát triển, chống lại tàu đồng, súng đồng từ ngoại bang (là Pháp). Cho đến khi, Pháp đặt chân và dùng một lượng lính nhỏ để giải tán toàn bộ lực lượng hùng mạnh của những nho sĩ, áp đặt một chế độ thuộc địa lên ngai rồng của vua tôi.
Lịch sử sẽ đánh giá ông Đảng sĩ Nguyễn Phú Trọng như thế nào, có lẽ sẽ nằm ở chương đen tối của dân tộc. Nơi mà ông được ví von như một người tuân phục đến mê muội thứ chủ nghĩa mà chẳng thể dẫn dắt được phát triển đi đâu, về đâu. Nhưng Đảng sĩ vẫn tuân phục, và tự ví mình là “tinh hoa”, đặt mình ở vongjd dài cao, mà bỏ quên cả lời oán thán của người dân. Trong khi, ví những người ưu tư và trăn trở là “thành phần bất hảo”.
Nho sĩ Annam tự hào và thích thú với “móng tay dài” không khác nhiều lắm với một Đảng sĩ Nguyễn Phú Trọng “tự hào và thích thú” với chủ nghĩa Mác-Lenin.

Theo Việt Nam Thời Báo

SHARE