Hy vọng Ukraine tránh được số phận của VNCH

Tiến sĩ Đinh Xuân Quân

47 năm sau, những ký ức tưởng đã lùi xa giờ lại hiện lên sống động khi những hình ảnh từ cuộc chiến của Nga ở Ukraine nhắc những người gốc Việt nhớ lại những đau thương và kinh hoàng của cuộc chiến mà họ đã trải qua, và về số phận của đất nước khi cuộc chiến kết thúc.

Vào lúc cộng đồng người Việt khắp nơi ở Mỹ đang tưởng niệm sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến tranh xâm lược của Nga nhắm vào Ukraine đang tô đậm thêm nỗi xót xa cay đắng nơi một số người khi họ nghĩ về số phận của đất nước họ giờ không còn tồn tại.

Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa trước cuộc tiến công của phe cộng sản khép lại Chiến tranh Việt Nam, một cuộc xung đột đẫm máu không chỉ giữa hai miền nam bắc mà còn là cuộc đối đầu ý thức hệ thời Chiến tranh Lạnh giữa các cường quốc Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc.

Tại Việt Nam, chiến thắng của phe cộng sản được mô tả là kết cục hào hùng cho công cuộc “giải phóng miền Nam thống nhất đất nước” nhưng đối với hàng triệu người bỏ nước ra đi sau năm 1975, nó đặt dấu chấm hết cho một nền tự do mà họ từng biết và gieo vào tâm thức họ nỗi “quốc hận.”

47 năm sau, những ký ức tưởng đã lùi xa giờ lại hiện lên sống động khi những hình ảnh từ cuộc chiến của Nga ở Ukraine nhắc họ nhớ lại những đau thương và kinh hoàng của cuộc chiến mà họ đã trải qua, và về số phận của đất nước họ khi cuộc chiến kết thúc.

Kể từ khi Nga phát động chiến tranh nhắm vào nước láng giềng phía nam vào tháng 2, Tiến sĩ Đinh Xuân Quân, một kinh tế gia đã về hưu ở miền bam bang California, thường xuyên xuất hiện trong những chương trình bình luận thời sự của một đài truyền hình tiếng Việt địa phương. Ông đưa ra những phân tích về tình hình chiến sự hàng ngày và nhắc nhở khán giả nhớ về những gì từng xảy ra ở Việt Nam

“Cuộc xâm lăng Ukraine của Nga đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều và liên tưởng tới cuộc chiến tranh Việt Nam nhất là sắp tới ngày 30 tháng 4, ngày mà Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ,” ông nói với VOA qua email ngày thứ Năm. “Nó cho tôi liên tưởng đến một miền Bắc xâm chiếm miền Nam, nó là cuộc nội chiến giữa miền Bắc và miền Nam, một cuộc chiến giữa phe Quốc gia giành độc lập và phe Cộng sản trá hình Việt Minh có từ những thập niên 1930-1940 đến 1975.”

Từng phục vụ trong tư cách một chuyên viên kinh tế tại ngân hàng trung ương của Việt Nam Cộng Hòa, ông cho biết ông bị bắt đi tù cải tạo trong ba năm và sau đó vượt biên qua Mỹ vào năm 1979.

Ông nhận định sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa là “thí dụ điển hình phe tà thắng phe thiện” trong cuộc chiến giữa tự do chống lại độc tài. Bi kịch của Việt Nam Cộng Hòa là nước này có đồng minh nhưng không kiên trì như phe cộng sản, ông nói. “Sau khi đồng minh nhất là Mỹ rút thì Việt Nam Cộng Hòa cố gắng hết sức để tự lực tự cường nhưng thời gian không cho phép.”

Đối với những người từng cầm súng chiến đấu, sự ủng hộ và hỗ trợ mà Mỹ và các nước phương Tây đang cung cấp cho Ukraine khiến họ không khỏi chạnh lòng về điều mà họ xem là sự đơn độc của Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến chống lại phe cộng sản. Việt Nam Cộng Hòa đã bị “bỏ rơi” và cuối cùng bị “bức tử” bởi chính những đồng minh của mình.

“Vào thời điểm năm 1973, Mỹ rút hết quân đội ra khỏi miền Nam, từ bao nhiêu tỉ đôla họ rút xuống còn 300 triệu,” ông Đinh Hùng Cường, thiếu tá bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa từng tham gia chiến đấu bảo vệ một tuyến đường tiếp tế vào đầu tháng 4 năm 1975, nói từ bang Virginia, lưu ý rằng viện trợ của Mỹ sụt giảm mạnh đã khiến quân đội gặp rất nhiều khó khăn trên chiến trường.

“Còn bây giờ mình thấy cả thế giới, các quốc gia NATO bên Âu Châu, đều đồng lòng giúp cho Ukraine để mà chống lại Nga. Nước Mỹ lúc đầu còn e dè thì bây giờ đã đi tới ba mươi mấy tỉ đôla để giúp cho Ukraine thì mình thấy rõ là Ukraine đứng vững được ngày hôm nay là nhờ NATO, nhờ Mỹ, nhờ thế giới tự do. Còn Việt Nam không thể đứng được vì họ đã bỏ mình, họ không viện trợ cho mình, và hơn nữa họ không có lòng nhân đạo để giúp cho mình chiến đấu thành ra bắt buộc mình bị cộng sản chiếm thôi.”

(Theo VOA)