Giấc mơ kỳ lạ của người lính Mỹ và câu chuyện cô gái lai tìm cha trong 20 năm

Phần 1: ‘Biết mình là con nuôi ngay trong ngày mẹ mất’

LTS: Như mọi ngày với thói quen đọc tin sáng trên các báo mạng ở Việt Nam, một bài đăng trên VnExpress sáng hôm đó thu hút sự chú ý của tôi. Không phải bởi cái tựa, mà là nụ cười hạnh phúc của một người lính Mỹ tóc hoa râm đang hôn lên tóc một cô gái cũng có nụ cười tỏa sáng không kém. Tấm ảnh nói lên tất cả. Bài viết có tên: “Cô gái lai Việt – Mỹ bất ngờ nhận ra thân phận thật vào ngày mất mẹ.”

À, họ là cha và con. Tôi đọc hết bài viết, cảm thấy còn nhiều chi tiết trong câu chuyện mình muốn biết. Tôi quyết tìm cho ra nhân vật Jenny Hằng Nguyễn, cô gái Việt lai Mỹ trong câu chuyện. Bằng vài “kỹ thuật nghiệp vụ” và một cuộc điện thoại, người bên kia đầu dây nói:

“Đúng rồi, chị Hằng làm ở đây. Chị chờ chút.”

Câu chuyện bắt đầu từ đây.

Mẹ Xuân, mẹ Hạnh, dì Hát, dì Hoa, ông Buddy Ashley là những cái tên được nhắc đến trong câu chuyện.

Chicago, Hoa Kỳ (NV) – Nếu 20 năm trước, người mẹ đã nuôi dưỡng cô từ lúc vài tháng tuổi không qua đời, thì có lẽ cô sẽ không bao giờ biết về nguồn gốc thật sự của mình. Hơn thế nữa, bà ra đi mang theo tất cả sự thật của câu chuyện.

Bây giờ là câu chuyện cô gái con lai tìm  cha ruột trong suốt 20 năm. Cô là Jenny Hằng Nguyễn Ashley, 47 tuổi, sống ở thành phố Chicago, tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ.

Má Xuân

Thật vậy, cô không biết vì chưa bao giờ cô có cảm giác  “xa cách vì không có cùng máu mủ, dù chỉ thoáng qua.”

Tôi chưa bao giờ có cảm giác xa cách và cũng không hề nghĩ mình là con nuôi. Cho dù đôi khi, có những đứa bạn hàng xóm chơi với mình nói “mẹ tao nói mày là con nuôi.” Tôi về hỏi má Xuân là tụi nó nói con là con nuôi có đúng không? Thì má tôi trả lời một câu là ‘Ơ không nuôi thì làm sao lớn?

Thường thường tôi nghe nói một người con nuôi hay bị hất hủi, bị đánh đập, không cho ăn, không cho đi học…nhưng tôi thì không có chuyện đó. Tôi muốn đi học tiếng Anh, bà cho đi học tiếng Anh. Tôi muốn đi học đàn, bà cho đi học đàn.

Cô chia sẻ khi được hỏi liệu có một phút giây nào đó cô cảm nhận sự xa cách máu mủ với mẹ Xuân, là người mẹ nuôi đã khuất của cô hay không? Cả một gia đình, cả một dòng họ thương yêu tôi. Có lẽ tôi là người may mắn trong vạn người con lai.”

Ông Buddy Ashley vào năm 1970. (Hình: Jenny Hằng Nguyễn Ashley)

Cô chưa bao giờ nghĩ mình là con nuôi, và cô cũng chưa bao giờ có ý định sẽ đi tìm cha ruột khi hai mẹ con đặt chân đến Mỹ theo diện con lai. Đơn giản, cô nghĩ rằng: “Tôi nghĩ mình có mẹ là đủ rồi, nên không nghĩ đến.” Năm ấy cô 16 tuổi.

Chỉ một lần duy nhất, khi hai má con đi nhà thờ, má Xuân nói ba của cô cũng cao giống như cái ông đứng đằng trước mặt.

Tất cả cô biết về ba của mình chỉ biết như thế. Chưa bao giờ cô thấy tấm hình và cũng chưa bao giờ biết đến cái tên.

Thế rồi, đã là định mệnh thì phải diễn ra như nó phải là…

Sự thật

Năm 1999, má Xuân của cô ngã bệnh. Nhớ lại lúc đó, cô kể:

Không biết là bệnh gì, nhưng khi vào bệnh viện thì má đã mê man rồi. Bác sĩ đẩy má vào máy scan để scan hết người. Sau đó bác sĩ nói là trong não của mẹ Xuân có một sợi dây thần kinh để dắt máu vô não thì nó bị mỏng một đoạn. Mỗi lần mẹ suy nghĩ, hay càng lớn tuổi thì sợi dây đó càng mỏng, đến một ngày nó sẽ đứt ra làm đôi. Khi đó máu sẽ tràn vào não, làm cho não bị ngộp thở và má sẽ chết.

Khi chụp hình đầu xong thì bác sĩ nói với tôi là phải giải phẫu cho má từ 10 đến 18 tiếng. Khả năng cứu là 50/50, còn lại là do ý trời với bản thân của bà chứ bác sĩ không thể làm gì hơn.”

Quyết định không đơn giản cho cô.

Nếu không làm gì cả, là chấp nhận để má Xuân của cô nằm im như vậy cho đến ngày bà mất và mất trong hình hài của người thực vật. Máu đã ngập trong não.

Nếu đồng ý mổ, cô phải đánh cược với chính số phận của bà.

Cuối cùng, cô đồng ý ký vào tờ giấy mổ và thực hiện yêu cầu của bệnh viện:

Cái này có liên quan đến di truyền trong gia đình. Tôi là con gái của bà (trong giấy khai sinh là như thế) thì bệnh viện yêu cầu tôi phải đi chụp não của tôi.

Khi chụp hình não của tôi ra thì người ta nói tôi không phải con ruột của bà, vì hộp sọ của tôi không có tương quan gì với bà hết. Cho nên bác sĩ bảo đảm là tôi không dính líu gì với bà hết, chắc chắn 100% tôi không phải là con ruột.

Năm đó là năm 1999.

Nén đau khổ, cô vượt qua hai nỗi đau xảy ra cùng lúc để đưa xác má về quê nhà, cho bà nằm cạnh bà ngoại của cô, đúng theo ý nguyên bà đã dặn dò khi còn sống.

Về đến quê nhà, tôi cắn răng im lặng để lo cho má trọn vẹn đến ngày cuối cùng. Tôi cũng muốn hỏi lắm, nhưng mẹ mình vừa mất, mình hỏi thì…”

Cô bỏ lửng câu nói. Không khó để nhìn thấy rõ và hiểu rõ tấm lòng của cô gái vừa mất mẹ, vừa biết được mình không phải là con ruột của bà, vừa nóng lòng muốn biết nguồn cội của mình.

Chữ hiếu và chữ nghĩa không cho phép cô đặt ra bất kỳ câu hỏi nào với gia đình trong thời gian đó. Cô dự tính sau ba năm, khi mãn tang má xong thì cô sẽ hỏi ông ngoại.

Thế nhưng một lần nữa, trớ trêu là định mệnh lặp lại. Khi chỉ còn ba tuần nữa đến ngày mãn tang má, ông ngoại của cô cũng ra đi. Nhớ lại lúc đó, cô nói:

Tôi dự định sẽ hỏi những ông bác trong nhà. Nhưng lại sợ mọi người cho rằng ông ngoại mới mất, má mới mất mà tôi đã đào bới chuyện cũ ra. Tôi cắn răng lần nữa chờ đợi thêm thời gian. Nhưng rồi các ông bác lần lượt qua đời, chẳng ai nói được với tôi điều gì.”

Mẹ Hạnh và dì Hát

Không thể bỏ cuộc và không cho mình bỏ cuộc, cô quay về Việt Nam lần nữa. Lúc này, cô quyết định hỏi thẳng dì Hát, một người dì trong gia đình, về mẹ ruột của mình. Bà cho biết: “Mẹ của con tên là Hạnh.”

Những gì dì Nguyễn Thị Hát, người phụ nữ hơn 60 tuổi (em của bà Xuân đã qua đời), tai đã lãng, trí nhớ đã dần phai, nhưng may mắn thay những gì cô muốn biết vẫn còn nằm trong tâm trí của bà. Cô kể lại câu chuyện qua lời dì Hát:

Mẹ sinh ra Hằng tên là Hạnh. Mẹ Hạnh làm trong quán bar của mẹ Xuân. Khi sanh ra Hạnh, vì phải vừa đi học vừa đi làm, mẹ Hạnh gửi Hằng cho một người bạn, được thời gian ngắn thì người bạn này không nhận nữa. Lúc đó, má Xuân mới lên tiếng nhận nuôi Hằng. Má Xuân thương và chăm sóc Hằng hơn ai hết.”

Những gì dì Hát còn nhớ là quán bar đó tên Mộng, trên đường Nguyễn Văn Thoại, Sài Gòn.

Cũng qua ký ức ít ỏi dì Hát còn giữ lại, cô biết mẹ Hạnh đã từng đến xin lại cô để đưa cô cùng đi Mỹ. Nhưng theo lời kể của dì Hát thì:

“Mẹ Xuân mới rửa tội cho Hằng. Mẹ Xuân chăm sóc Hằng cả linh hồn lẫn thể xác, mà mẹ Hạnh thì không cùng tôn giáo, không phải Thiên Chúa Giáo nên không thể cho mang đi được.”

Từ đó, mẹ Hạnh của cô không quay trở lại nữa. Cũng theo ký ức của dì Hát, cái ngày mà bà gặp mẹ Hạnh của cô đến xin lại con, bà nói:

“Hằng giống mẹ Hạnh như đúc.”

Và đặc biệt, theo lời dì Hát kể, mẹ Hạnh đến xin lại cô để rời khỏi Việt Nam cùng một người đàn ông ngoại quốc, người Mỹ.

Khi đó, cô nghĩ rằng: “Nếu mẹ Hạnh đi về Mỹ thì chắc phải đi với ba tôi. Cho nên tôi quay về Mỹ, tôi lao vào lấy DNA để tìm ba. Trong đầu tôi nghĩ rằng khi tìm được ba thì sẽ tìm được mẹ, vì mẹ đã đến xin tôi để đưa đi cùng với ba.

Mang trong mình nỗi khắc khoải nhưng cô nói chưa bao giờ cô trách mẹ Hạnh hay giận mẹ Xuân đã không nói ra sự thật. Cô tự trách mình sao quá đỗi hời hợt trong những tháng năm mẹ Xuân còn sống. Cô tự trách phải chi khi đó cô đề cập đến ba của mình, tìm hiểu về DNA thì đã có hy vọng…

Theo Người Việt

SHARE