Điểm mặt những dòng xe chiến đấu bộ binh nổi bật ở Ukraine

Xe M2/M3 Bradley của Mỹ. Ảnh: Wikipedia
Dưới đây là thông tin sơ lược về hai dòng xe chiến đấu bộ binh được quân đội Ukraine đưa vào vận hành.

Xe chiến đấu bộ binh bọc thép (AIFV) vốn được thiết kế cho một nhiệm vụ cơ bản là chuyên chở binh sỹ trên chiến trường, nhưng trong kỷ nguyên của tác chiến hiệp đồng binh chủng thông thường, xe AIFV đã trở thành phương tiện nhân bội lực lượng cho các bên tham chiến, kể cả ở Ukraine hiện nay.

Hệ thống xe chiến đấu Bradley của lục quân Mỹ do công ty BAE Systems Land & Armaments chế tạo gồm xe chiến đấu bộ binh M2 và xe chiến đấu chở quân M3. Kể từ năm 1981, đã có trên 6.000 xe của cả hai loại được đưa vào trang bị.

Vai trò của xe chiến đấu bộ binh M2 là chuyên chở bộ binh trên chiến trường, tạo ra sự che chắn hoả lực cho binh sỹ ngoài xe và chế áp xe tăng và xe chiến đấu của đối phương. Xe M2 có kíp xe ba người: chỉ huy, pháo thủ và lái xe, cộng với 6 lính bộ binh được trang bị đầy đủ. Xe M3 đảm nhận nhiệm vụ trinh sát với kíp xe ba người cộng với 2 lính trinh sát/thám báo.

Xe Bradley đã trải qua một chương trình nâng cấp, bao gồm những cải tiến dựa trên kinh nghiệm hoạt động trong chiến tranh vùng Vịnh, cho đến nay trên 600 xe đã được nâng cấp.

Vũ khí chính là pháo liên thanh 25 mm M242 Bushmaster của ATK Ammunition Systems. Pháo M242 có một nòng với một cơ cấu tiếp đạn kép tích hợp và lựa chọn chế độ tiếp đạn từ xa. Pháo thủ có thể chọn chế độ bắn phát một hoặc bắn liên thanh. Tốc độ bắn tiêu chuẩn 200 phát/phút nhưng cũng có thể chuyển sang tốc độ bắn 500 phát/phút tùy ý. Một súng máy 7,62 mm M240C được lắp đồng trục, bên phải của pháo Bushmaster.

Xe M2 Bradley được trang bị tổ hợp tên lửa chống tăng TOW BGM-71 của Raytheon chế tạo. Bệ phóng hai ống phóng tên lửa TOW được lắp bên trái tháp pháo. Mục tiêu được bám bằng một kính ngắm quang học, phát hiện tín hiệu hồng ngoại từ phía đuôi tên lửa trong khi bay. Một đường truyền lệnh gồm hai dây dẫn nối giữa tên lửa và xạ thủ được tung ra từ hai cuộn ở phía đuôi tên lửa. Bệ phóng sẽ gửi số liệu hiệu chỉnh đường bay tới hệ thống dẫn đường trên tên lửa qua đường truyền lệnh. Tầm bắn của tên lửa TOW là 3,75 km.

Xe Bradley còn được trang bị hai thùng phóng lựu khói M257, mỗi thùng gồm 4 lựu khói. Ngoài ra xe  còn được trang bị một hệ thống tạo/phun khói động cơ.

Vỏ xe M2 được chế tạo bằng giáp hợp kim nhôm và giữa các lớp có khoảng trống được hàn ghép lại. Ngoài ra, các xe M2A3/M3A2 Bradley đã được lắp thêm giáp thụ động hoặc giáp phản ứng nổ (ERA).

Tất cả các xe Bradley đều có khả năng lội nước. Các mẫu xe đầu tiên được trang bị một tấm cản nước, được kíp lái lắp đặt trước khi lội nước. Các mẫu xe sau này được trang bị một phao bơm hơi ở phía trước và hai bên sườn xe. Việc bơi dưới nước được thực hiện bằng hai xích xe, tốc độ bơi nước tối đa có thể đạt 7,2 km/h.

Dòng xe chiến đấu bộ binh BMP của Liên Xô/Nga/Ukraine

Chiếm một tỉ lệ phần trăm khá lớn trong tổng số 6.000 xe chiến đấu bộ binh bọc thép hiện có trong trang bị của các nước khu vực châu Á- Thái Bình Dương và Đông Âu, trong đó có Ukraine, là dòng xe BMP, với xe BMP-1 cổ điển, xe BMP-2 và xe BMP-3.

Dòng xe BMP do nhà máy Kurganmashzavod, Liên Xô (Nga) chế tạo khung gầm và Phòng thiết kế công cụ Tulamashzavod chịu trách nhiệm chế tạo phần tháp pháo. Đây là họ xe thiết giáp bánh xích, lội nước được thiết kế để giao chiến với các mục tiêu mặt đất và trên không được bọc giáp trong trạng thái tĩnh tại, đang di chuyển hay bơi dưới nước.

Xe BMP-2. Ảnh: Wikipedia

 

Phiên bản xe chiến đấu bộ binh BMP-3 được đưa vào sản xuất loạt vào cuối những năm 1980. Xe nặng 18,7 tấn, có khả năng chạy với vận tốc 70 km/h trên đường với dự trữ hành trình 600 km. Vũ khí chính của BMP-3 là pháo nòng rãnh bán tự động 100 mm 2A70/ bệ phóng tên lửa, được ổn định trên hai trục và có thể bắn đạn nổ phá – mảnh 3UOF HE-FRAG hoặc tên lửa chống tăng 3UBK 10. Tầm hiệu quả đối với đạn HE-FRAG là 4000 m, vận tốc đầu nòng 250 m/s, trong máy nạp đạn tự động chứa được 22 viên đạn HE-FRAG, tổng cơ số đạn trên xe là 40 viên, tốc độ bắn 10 phát/phút.

Vũ khí trang bị khác gồm pháo tự động 30 mm 2A72, được ổn định trên hai trục, có thể bắn đạn 3UOR-6 và 3UOR-8. Cơ số đạn mang là 500 viên đạn xuyên giáp (AP) hoặc đạn HE-FRAG; tốc độ bắn trên 300 viên/phút, tầm bắn từ 1500 đến 2000 m. Ngoài ra còn có một súng máy 7,62 mm lắp đồng trục và 2 súng máy 7,62 lắp ở vòng cung phía trước.

Nguyên Phong