Chiến lược không quân Ấn Độ sau sự kiện Balakot: Nhân tố Trung Quốc

Làm thế nào không quân Ấn Độ có thể được triển khai để đối phó với một cuộc chiến tiềm tàng với Pakistan và một cuộc chiến trên hai mặt trận: với Pakistan và với Trung Quốc?

Tiếp theo sau cuộc tấn công Pulwama diễn ra vào ngày 14 tháng 2 năm 2019 tại Kashmir, Ấn Độ, nơi mà 44 nhân viên bán quân sự Ấn Độ đã thiệt mạng trong một vụ tấn công tự sát do Jaish-e-Muhammad (JeM) thực hiện, Ấn Độ đã tấn công một mục tiêu của Pakistan vào ngày 26 tháng 2. Cuộc tấn công vào Trại JeM ở thành phố Balakot thuộc tỉnh Khyber Pakhtunkhwa của Pakistan được tiến hành bởi 12 máy bay Mirage 2000 của Ấn Độ là một cuộc oanh tạc trên không đầu tiên vào lãnh thổ Pakistan kể từ cuộc Chiến tranh Ấn Độ-Pakistan năm 1971. Vào ngày 27 tháng 2, một chiến đấu cơ của Pakistan, hoặc là F-16 hoặc là JFs, đã bắn hạ một máy bay Mig-21 của Ấn Độ. Chiếc máy bay của Pakistan đã bị chặn lại trong một nỗ lực vượt qua ranh giới kiểm soát giữa Kashmir do Ấn Độ và Pakistan quản lý để thực hiện vụ đánh bom trả đũa. Cũng có báo cáo về một chiếc F-16 của Pakistan đã bị tiêu diệt.
Nay thì Ấn Độ đã đưa ra một quyết định mang tính bước ngoặt là sử dụng sức mạnh không quân để chống khủng bố, họ sẽ thấy mình ngày càng nằm trong tầm hỏa lực của Không quân Pakistan (PAF) và chắc là sẽ phải leo thang thêm. Do đó, cuộc tranh luận về chiến lược không quân của Ấn Độ đã thoát khỏi địa hạt lý thuyết và sẽ có ý nghĩa thực tế quan trọng.
Bên cạnh việc trận chiến trên không trên đây phát lộ nhu cầu tiếp tục nâng cấp lực lượng máy bay chiến đấu và máy bay ném bom của Ấn Độ, nó cũng đưa ra một vấn đề trung tâm mà Không quân Ấn Độ (IAF) phải đối mặt: làm thế nào để xử lý một cuộc chiến tiềm tàng với Pakistan và một cuộc chiến tranh hai mặt trận với Pakistan và Trung Quốc? Những đánh giá về những khả năng và hạn chế của PAF và Không quân của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAAF) chỉ ra rằng yếu tố chính quyết định sự chuẩn bị tương đối của IAF cho cuộc chiến với Pakistan là hiện đại hóa – nhưng đối với cuộc chiến tranh trên hai mặt trận với Trung Quốc và Pakistan, IAF cũng phải dự đoán chính xác mức độ tham gia của Trung Quốc.
Ấn Độ chọn chiến lược “mũi nhọn của ngọn giáo”, theo đó có một vài phi đội máy bay tiên tiến, như Su30-MKI của Nga và Mirage 2000 của Pháp, được hỗ trợ bởi số lượng lớn những chiếc MiG-21 cổ điển của thập niên 1960. MiG-21 là trụ cột của IAF trong nhiều thập kỷ: IAF vẫn có sáu phi đội MiG-21 biến thể Bison, tương đương khoảng 96 đến 108 máy bay phản lực. Tuy nhiên, do sự cố thường xuyên và thương vong người lái, những nỗ lực loại bỏ chúng đang diễn ra. Gần đây nhất, thỏa thuận với Rafale của Pháp đã tìm được một bước đi theo hướng đó. Máy bay chiến đấu hạng nhẹ (LCA) được sản xuất trong nước cũng đang được giới thiệu. Tuy nhiên, quá trình mua bán với Rafale đã bị gây nhiều khó khăn bởi những cáo buộc chính trị tập trung vào những lời buộc tội về những cú “lại quả”. LCA mất ba thập kỷ để phát triển, nhưng chỉ 16 chiếc sẽ được không quân vận hành vào tháng 3 năm 2019. Ngược lại, quá trình thay thế máy bay tiên tiến đang được tiến hành tốt. Ấn Độ hiện có 11 phi đội máy bay Su-30MKI Flankers của Nga, đây là một trong những máy bay chiến đấu tiên tiến nhất trên thế giới. Ấn Độ cũng có ba phi đội Mirage 2000E / ED / I / IT; bốn phi đội của Jaguar IB / IS; và ba phi đội của FloG MiG-27ML / MiG-23UB.
Liên quan đến cuộc chiến với Pakistan, IAF được trang bị tốt hơn PAF. Như Bảng 1 cho thấy, IAF có một lực lượng lớn hơn, một tỷ lệ khá lớn trong số đó là các máy bay chiến đấu tiên tiến như MiG-29 Fulcrum, Su-30MKI và Mirage 2000. So sánh để thấy rằng các máy bay chiến đấu tiên tiến nhất của Pakistan bao gồm F-16 do Mỹ sản xuất và, ở một mức độ nào đó, JF-17 Thunder do Pakistan và Trung Quốc hợp tác sản xuất. Tình hình kinh tế hiện tại của Pakistan sẽ ngăn không cho nước này tiến hành hiện đại hóa lực lượng không quân hoặc tăng số lượng các phi đội. Do đó, IAF có lợi thế rõ ràng so với PAF về mặt vật chất. Tuy nhiên, không giống như Trung Quốc, cả IAF và PAF đều không có máy bay ném bom chuyên dụng. Ấn Độ chủ yếu dựa vào máy bay đa năng và coi chúng là đủ để đạt đến các mục tiêu chiến lược.
Tuy nhiên, khi PLAAF được thêm vào phương trình, thì IAF phải đối mặt với một vấn đề phức tạp hơn. Trung Quốc đã nhanh chóng hiện đại hóa quân đội và cũng đã mở rộng quy mô của lực lượng không quân. Như thể hiện trong Bảng 1, Trung Quốc có 2.413 máy bay có khả năng chiến đấu, gần gấp đôi số lượng máy bay của Ấn Độ và Pakistan cộng lại. Khi chúng ta tính toán các khả năng của Trung Quốc cùng với các khả năng của Pakistan, IAF gặp bất lợi.
Tuy nhiên, phương trình này không đơn giản. Ấn Độ không phải là mối đe dọa duy nhất mà  Trung Quốc phải đối phó. Trên thực tế, Ấn Độ thậm chí không phải là mối đe dọa chính. Hiện đại hóa quân sự Trung Quốc hướng tới Hoa Kỳ và Nhật Bản. Do đó, một tỷ lệ đáng kể các khả năng của nó sẽ luôn được dành riêng cho Hoa Kỳ và Nhật Bản – và có thể cả Nga. Kết quả là, trong bất kỳ một kịch bản chiến tranh hai mặt trận nào liên quan đến Ấn Độ chống lại Pakistan và Trung Quốc, Trung Quốc chỉ có thể triển khai một tỷ lệ nhất định của khả năng của mình. Điều này phải được ghi nhớ trước khi chúng ta chuyển sang xem xét sự chuẩn bị của IAF. Ngược lại, PAF có thể được dự kiến ​​sẽ sử dụng toàn bộ khả năng của mình chống lại Ấn Độ. Tuy nhiên, với tình trạng bất cân xứng hiện tại giữa Ấn Độ và Pakistan, đó là tình huống mà IAF sẽ có thể ứng phó được.
Do đó, tất cả các trường hợp khác cũng vậy mà thôi, hai yếu tố có thể thúc đẩy sự cân bằng chống lại Ấn Độ trong cuộc chiến trên hai mặt trận là: 1) tốc độ hiện đại hóa của IAF, liên quan đến việc loại bỏ MiG-21 và mua sắm các nền tảng mới; và 2) tỷ lệ các nguồn lực mà PLAAF sẽ mang đến cho mặt trận Nam Á trong thời chiến.
Một chiến lược tối đa (cực hạn = a maximalist strategy) đối với Ấn Độ sẽ là chi tiêu quốc phòng hơn hẳn Pakistan và Trung Quốc và có một lực lượng không quân có quy mô (nếu không lớn hơn) PAF và PLAAF cộng lại. Tuy nhiên, với những yêu cầu đối với ngân sách của Ấn Độ, điều này có thể không khả thi. Do đó, ngoài việc hiện đại hóa, cộng đồng an ninh Ấn Độ phải dành một lượng trí tuệ đáng kể để đánh giá một cách thực tế mức độ tham gia dự kiến của Trung Quốc.
Trong bất kỳ chiến lược nào của cuộc chiến hai mặt trận, Ấn Độ đều có thể tham gia vào các kịch bản quốc tế nơi mối quan hệ chặt chẽ hơn với Nhật Bản và Hoa Kỳ sẽ giúp Ấn Độ có thể ngăn chặn Trung Quốc triển khai một tỷ lệ lớn hơn của không quân chống lại Ấn Độ. Với các tình trạng khẩn cấp của Hoa Kỳ tại Trung Á và Đông Á có thể cắt giảm các cam kết của mình, Ấn Độ có thể khuyến khích ý tưởng tái vũ trang của Nhật Bản, điều mà Nhật Bản đang bắt đầu từ từ thực hiện, và được Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump ủng hộ. Tái vũ trang của Nhật Bản chắc chắn sẽ tạo ra những thách thức lớn hơn đối với Trung Quốc ở mặt trận phía đông của họ, điều này sẽ luôn có nghĩa là sẽ có ít hơn các nguồn lực được dành cho mặt trận tây nam của họ để chống lại Ấn Độ.
Tác giả bài báo:  
Vasabjit Banerjee là phó giáo sư khoa học chính trị tại Đại học bang Mississippi. Các mối quan tâm nghiên cứu chính của ông là chính trị học tranh chấp và kinh tế chính trị học địa phương về sự hình thành nhà nước trong các xã hội đang phát triển; cụ thể là Nam Á, Mỹ Latinh và Nam Phi.
Prashant Hosur Suhas là trợ giảng của khoa Khoa học chính trị tại Đại học bang Đông Connecticut, nghiên cứu của ông tập trung vào quan hệ quốc tế và chính trị học so sánh, với tiêu điểm là Nam Á.

Nguồn: Indian Air Strategy After Balakot: The China Factor

SHARE