30 tháng Tư năm nay, CSVN hãy nhìn vào sự thật một lần được không?

21
Nhiều thế hệ người Việt vẫn nuối tiếc một thành phố Sài Gòn trước 1975

Ý kiến nói dịp 30/4 năm nay “là lúc giới cầm quyền Việt Nam hãy thôi tuyên truyền và thật lòng nhìn nhận và chấp nhận rằng mình đã không tôn trọng một số sự thật về cuộc chiến Việt Nam”.

Mới đây, một bài trên Công an Nhân dân lại lên án những nhà hoạt động Việt Nam như Nguyễn Văn Đài, Lê Thu Hà, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày)… là “kẻ phản bội đất nước, dân tộc để cầu vinh”, là “phá hoại sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc”…

Rõ ràng giới lãnh đạo đảng, nhà nước, và chính quyền Việt Nam đều biết rõ những điều nêu trên là giả dối, xảo trá, tuyên truyền. Không những thế, tôi tin rằng tất cả những gì liên quan đến sự kiện 30 tháng Tư được đăng trên các cơ quan truyền thông tại Việt Nam, như trình bày trên, chắc chắn phải được sự chấp thuận của Ban Tuyên giáo nói riêng và dàn lãnh đạo cao nhất trong Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung.

Vậy thì, kêu gọi hòa hợp hòa giải, đoàn kết yêu nước, “bộ phận dân tộc không thể tách rời”, nhưng cứ tiếp tục chà đạp lên bộ phận này, lên nhân phẩm, lên danh dự, liên tục kể từ 30 tháng Tư năm 1975 cho đến nay, thì nghe có được không? Chưa kể bao nhiêu chính sách thô bạo và dã man đối với bộ phận này để dồn họ vào đường cùng, để họ phải vượt biên vượt biển, với vài trăm nghìn người bỏ mình tại đại dương!

Ai gây ra hận thù chồng chất này, rồi kêu gọi quên đi quá khứ?

Có phải đã đến lúc giới lãnh đạo Việt Nam, nếu còn chút lương tri, nên nhìn thẳng vào sự thật không? 47 năm rồi, đâu phải 2 năm, hay 7 năm. Hai thế hệ đã sinh trưởng trong thời gian này. Những gì xảy ra trong cuộc chiến Việt Nam, cứ cho như là 1955 – 1975 (hay 10 năm trước đó, từ 1945 – 1955, tức cuộc kháng chiến chống Pháp), tất nhiên có nhiều khía cạnh lịch sử và hẳn nhiên vô cùng phức tạp.

Mỗi bên tham chiến, từ Việt Nam cho đến quốc tế, và bên trong mỗi bên tham chiến, đều có những cách nhìn và góc nhìn khác nhau. Bởi vì lịch sử là sự viết lại, xây dựng lại, câu chuyện đã xảy ra. Không bao giờ có một sự thật trong lịch sử. Nhưng những sử gia chân chính sẽ dựa trên các sự kiện có thật hoặc đã được kiểm chứng hẳn hoi để từ đó đưa ra những nhận định nhỏ hay lớn, mang tính tình tiết hay bao quát, về các vấn đề nghiên cứu. Người đọc sẽ học hỏi được nhiều hơn khi có điều kiện đối chiếu, từ tác phẩm này đến tác giả khác.

Độc quyền lịch sử, do đó, rất phản khoa học, và không ai có quyền làm điều đó. Lịch sử của một dân tộc thuộc quyền của toàn dân tộc đó, không phải của riêng đảng phái, chính quyền hay chế độ nào cả. Nhưng không chỉ thuộc quyền của dân tộc đó, nó còn thuộc quyền của toàn nhân loại, bởi vì người ngoài cuộc vẫn có thể viết sử theo nhãn quan của họ. Khi chiếm độc quyền lịch sử, nó cũng hàm nghĩa độc quyền sự thật. Như thế nó chỉ loại bỏ tất cả những phiên bản khác, những cách nhìn và đánh giá khác, mà có khả năng là gần với sự thật nhất.

Nhà cầm quyền CSVN chủ trương tuyên truyền và nhồi sọ về ngày 30/4/1975

Lịch sử được biên soạn và phát hành tại Việt Nam hiện nay đã bị định hướng hoàn toàn, để rồi chỉ còn công nhận vai trò và công lao của Đảng.

Thời gian 47 năm, khoảng một nửa dân số sinh ra sau thời điểm này. Họ có quyền biết sự thật. Người dân miền Bắc đã hy sinh hay cam chịu khổ đau trong suốt cuộc chiến kéo dài gần 20 năm cũng cần biết sự thật. Người dân miền Nam bị bức tử và trù dập cũng cần biết sự thật. Tóm lại, đây là lúc giới cầm quyền Việt Nam hãy thôi tuyên truyền và thật lòng nhìn nhận và chấp nhận rằng mình đã không tôn trọng một số sự thật về cuộc chiến Việt Nam. Có vô số vấn đề, nhưng ít nhất là ba điều căn bản như sau.

Một, nó hoàn toàn không phải là cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, chống Mỹ xâm lăng gì cả. Mỹ hoàn toàn không có chủ trương xâm chiếm/lăng gì Việt Nam trong cuộc chiến này. Washington chỉ đổ dồn nguồn lực vào miền Nam Việt Nam chủ yếu để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản sang Đông Nam Á, mà họ tin vào lúc đó, theo thế cờ Domino, sẽ xảy ra như thế.

Hiểu rằng chủ trương của Mỹ trong Thế Chiến II là trả lại độc lập và quyền tự quyết của đại đa số, nếu không phải là tất cả, các quốc gia trên thế giới, kể cả những nước như Ấn Độ, hay cảng lớn như Hồng Kông, về cho quốc gia sở hữu nó. Quan điểm này tất nhiên không được đồng minh thân cận nhất của Mỹ lúc đó tán thành. Winston Churchill, với chủ nghĩa đế quốc vẫn nằm trong tư duy, chưa muốn từ bỏ vai trò của Anh trên bàn cờ chính trị quốc tế.

Nhưng lập trường và quyết tâm của Mỹ để xây dựng lại một trật tự mới, dựa trên pháp luật, kể từ cố Tổng thống Franklin Delano Roosevelt, và các tổng thống tiếp theo của Mỹ sau đó, đã phản ảnh điều này. Mỹ trao trả lại chủ quyền cho Nhật, Đức và Ý sau Thế Chiến II, và với Nam Hàn trong cuộc chiến Bắc Nam, cho thấy họ không hề có chủ trương chiếm giữ. Đó là quan niệm nhất quán về chủ quyền quốc gia của Mỹ, kể cả chiến tranh Iraq hay Afghanistan gần đây. Việt Nam, là đối tác của Mỹ kể từ năm 1995 khi bình thường hóa quan hệ, nên tôn trọng sự thật và quan hệ này.

Dối trá với lịch sử một cách có chủ đích

Hai, nó hoàn toàn cũng không phải để thống nhất hay giải phóng dân tộc gì cả, điều cũng được rêu rao từ bao thập niên qua. Không phủ nhận rằng một trong các mục tiêu của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, cũng như phía quốc gia Việt Nam, trước năm 1954, và nhất là trước năm 1945, là giành lại độc lập cho Việt Nam từ Pháp.

Nhưng với tư duy của lãnh đạo miền Bắc coi cộng sản là thiên đường để xây dựng thế giới đại đồng, Lenin và Stalin và Mao là thánh thần không thể sai, thì thống nhất hay giải phóng chỉ còn là mục tiêu phụ, hay thật ra chỉ là cái cớ để gây chiến. Bởi nếu thật sự là thống nhất đất nước, giải phóng dân tộc, làm sao có thể biện minh cho những chính sách và hành động trả thù, trù dập, phân biệt đối xử… một cách dã man và thô bạo dành cho quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa?

Ba, nó hoàn toàn cũng không phải là cuộc chiến có chính nghĩa gì cả. Lãnh đạo cộng sản đã không tôn trọng sự thật, mà còn tuyên truyền và sử dụng những ngôn từ rất xúc phạm dành cho phía Việt Nam Cộng Hòa. Các từ nguỵ quân nguỵ quyền, v.v… được dùng cho một chính thể mà đã có công lớn trong việc phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, thể thao…

Vào lúc đó Việt Nam Cộng Hòa tuy chưa bằng Nhật, nhưng có thể sánh vai với những nước như Singapore, Nam Hàn, Đài Loan, và hơn hẳn Thái Lan hay Mã Lai. Việt Nam Cộng Hòa có rất nhiều tiềm năng vì, tuy đang chiến tranh, chính sách nhân dụng đã rất tiến bộ và có tầm nhìn xa. Sinh viên Việt Nam đi du học ở khắp nơi trên thế giới về mọi lĩnh vực kể từ đầu cuối thấp niên 1950, và mong chờ cơ hội về phục vụ quốc gia.

Tất cả những điều nêu trên, những ai muốn thật sự tìm hiểu, thì sẽ tìm ra tài liệu. Nhiều người Việt Nam cũng đã nhận thức được những sự thật trên. Nhưng chính sách giáo dục nhồi sọ và bưng bít thông tin cộng với chính sách tuyên truyền đã gây cản trở cho sự tiếp cận và tìm hiểu ngọn ngành về cuộc chiến Việt Nam cũng như lịch sử cận đại và hiện đại.

Dối trá với lịch sử một cách có chủ đích và hệ thống để phục vụ cho mục tiêu nắm quyền và giữ quyền của một cá nhân hay phe nhóm, là một trọng tội đối với dân tộc. Bởi vì khi không hiểu và không học từ lịch sử, hay học toàn những điều dối trá, những thế hệ sau này sẽ gặp phải những thử thách trọng lớn.

Vì thế, việc trả lại sự thật và công bằng cho lịch sử là tư duy đúng đắn của mọi lãnh đạo quốc gia. Lãnh đạo và chế độ sẽ ra đi, nhưng dân tộc là trường tồn.

Phạm Phú Khải