VN triển khai việc cam kết ứng phó biến đổi khí hậu như thế nào?

0
6

Một con kênh khô nước ở huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam ngày 8/3/2016.

Những diễn biến thời tiết tại Việt Nam hiện nay có những bất thường do tình trạng biến đổi khí hậu, cộng thêm hiện tượng El Nino, rồi vấn đề các đập trên dòng chính Mekong gây ra…

Việt Nam tham gia cùng các nước khác và đồng thuận với thỏa thuận tiến hành những hoạt động giảm thiểu những tác động bất lợi, cũng như cam kết không để nhiệt độ Trái Đất đến cuối thế kỷ này tăng thêm quá 2 độ C.

Trong chuyên mục Khoa học – Môi trường kỳ này, Gia Minh hỏi chuyện chuyên gia môi trường và phát triển nông thôn, tiến sĩ Trần Đại Nghĩa về những vấn đề liên quan.

Tất cả các ngành và tỉnh đều có chương trình ứng phó

Gia Minh: Việt Nam có những triển khai thế nào những thỏa thuận sau COP-21 tại Paris vào tháng 12 vừa qua?

TS Trần Đại Nghĩa: Thứ nhất chính phủ đã giao cho các bộ, ban ngành thành lập các nhóm công tác để xây dựng kế hoạch triển khai sau thỏa thuận COP-21. Chính phủ Việt Nam đang đẩy nhanh và có thể ký thỏa thuận vào tháng tư này nếu như quốc hội thông qua.

Gia Minh: Dù ký hay không nhưng Việt Nam lâu nay có chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu. Chương trình quốc gia đó theo ông đang được triển khai như thế nào và đặc biệt thông tin đến cho các nơi chịu tác động trực tiếp?

TS Trần Đại Nghĩa: Trong chương trình quốc gia thì có các chương trình con. Tất cả các ngành và các tỉnh đều có chương trình hành động ứng phó biến đổi khí hậu.

Ở Việt Nam bây giờ có hơn 60% nguồn nước từ bên ngoài, chỉ có 30% trên đất Việt Nam thôi. Đó là nằm ngoài tầm kiểm soát của Việt Nam.
-TS Trần Đại Nghĩa

Chương trình lần thứ nhất là từ năm 2011 đến năm 2015. Gần đây các tỉnh đều cập nhật lại kế hoạch chủ động đó cho năm 2013-2020. Trong đó chỉ rõ ra những hoạt động ưu tiên là gì. Các nguồn lấy từ đâu: nguồn nào từ trung ương, nguồn nào huy động từ các tổ chức quốc tế, nguồn nào từ địa phương, nguồn nào từ cộng đồng và doanh nghiệp… Điều đó tùy thuộc vào từng tỉnh; nhưng tất cả các tỉnh đều có triển khai. Có hướng dẫn hẳn hoi. Hướng dẫn, qui định mới trong cập nhật 2016-2020 thì nội dung ứng phó biến đổi khí hậu phải lồng ghép ngay vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hằng năm và 5 năm của địa phương để chỉ rõ các nguồn và những nội dung ưu tiên cần phải làm. Trước đây thì viết tương đối chung chung, giống nhau.

Gia Minh: Nhưng còn việc thông tin cho người dân thì ra sao?

TS Trần Đại Nghĩa: Ở tỉnh, qui trình triển khai thì thường những đơn vị tư vấn do tỉnh mời về làm để xây dựng lên thì có giai đoạn được tham vấn. Tức tham vấn rộng rãi các đơn vị, các đối tác ở địa phương. Trong đó có những vùng họ có thể tham vấn sâu đến cộng đồng vì một số thích ứng cần phải có sự tham gia của cộng đồng ở đó. Qui trình tham vấn có thông tin đến cho cộng đồng biết.

Gia Minh: Hiện nay có tình hình ở đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, nam Trung bộ bị hạn hán. Người ta nói do El Nino, tác động của biến đổi khí hậu… Theo ông tình hình đó được dự báo thế nào và có những ứng phó ra sao?

TS Trần Đại Nghĩa: Chúng tôi cũng tính đến có chuyện kết hợp giữa El Nino, ví dụ như dự báo ngay từ đầu năm cũng đã nêu ra, có một số kịch bản được khoanh vùng: vùng bị ảnh hưởng của hạn, vùng bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn…

Từ cuối năm 2015 có những vùng ở miền Trung bị hạn không có nước cả năm rồi. Dung lượng các hồ chứa cho đến bây giờ chỉ đạt chừng 50-60% tổng lượng như mọi năm thôi, mà mùa mưa hết rồi. Điều đó cũng được cảnh báo, thế nhưng năm nay vượt qua dự đoán của mọi người. Ví dụ xâm nhập mặn tại vùng đồng bằng Sông Cửu Long có nơi vào sâu đến 90 kilomet là hằng trăm năm mới có, theo những ghi chép có được cho đến nay.

Kết hợp với việc quản lý thượng nguồn sông Mekong phức tạp, nhiều nước tham gia khiến hạn chế dòng chảy. Điều đó cộng hưởng làm tình hình trở nên nghiêm trọng hơn.

Gia Minh: Như năm ngoái có thiếu nước, vậy có những biện pháp gì rồi?

TS Trần Đại Nghĩa: Về phía chính phủ cũng có nhiều biện pháp khác nhau. Ví dụ như ngày trước chủ yếu tập trung vào sản xuất lúa thì giải pháp của ngành nông nghiệp là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi sang những loại cây trồng sử dụng ít nước hơn. Đơn cử như làm ba vụ lúa thì chuyển sang một vụ lúa, một vụ màu hay hai vụ màu… Ở những vùng ven biển mà trồng lúa liên tục thì chuyển sang làm một vụ lúa, một vụ tôm; vào mùa mưa trồng lúa, đón nước ngọt về ‘thau chua, rửa mặn’ đi trồng lúa. Đến mùa khô khi nước mặn quá thì chuyển sang nuôi tôm để nâng cao kinh tế cho người dân.

000_8M53W-622.jpg
Một đập nước ở con kênh khô nước tại huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam ngày 8/3/2016.

Trước đây hệ thống hồ đập của mình dùng để gọi là ‘chống lũ’ nhiều hơn ; nhưng nay ngành thủy lợi còn đề ra phải điều tiết liên hồ, không chỉ điều tiết lũ nữa mà điều tiết cả hạn. Tuy nhiên, lượng mưa ít thì có điều tiết đến mấy cũng khó. Giải pháp bây giờ là phải xây thêm những hồ nhỏ, bởi vì như bên California trên hồ người ta phải thả những bóng nhỏ xuống để tránh bốc hơi bề mặt. Nếu mưa và độ ẩm thấp thì bốc hơi bề mặt tốn dữ lắm. Ngay như đồng bằng sông Cửu Long mưa xuống bao nhiêu bốc hơi hết, cân bằng nước không đủ. Vì vậy bây giờ phải là những hồ nhỏ kết hợp duy trì rừng đầu nguồn.

Ở Việt Nam bây giờ có hơn 60% nguồn nước từ bên ngoài, chỉ có 30% trên đất Việt Nam thôi. Đó là nằm ngoài tầm kiểm soát của Việt Nam.

Gia Minh: Đã thấy những nguyên nhân vượt ngoài tầm kiểm soát của Việt Nam như thế, nhưng bên trong có những biện pháp được thực hiện và đề xuất ra sao?

TS Trần Đại Nghĩa: Có một số đề xuất là tăng cường kết hợp trong Tiểu vùng Sông Mekong. Trước đây chỉ có 4 vùng tham gia thôi, Trung Quốc ở thượng nguồn và xây những đập như thế.

Về mặt quốc gia đại sự phải có những cam kết mang tính chất mạnh mẽ hơn trong Tiểu vùng Sông Mekong. Vừa rồi Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu Trung Quốc phải tháo nước ở các hồ đập của họ. Đó là trước mắt; vừa rồi Việt Nam có nêu ra hai sáng kiến: một là quản lý, hỗ trợ quản lý tốt hơn/hiệu quả nguồn nước của sông Mekong; thứ hai liên quan đến kết hợp phát triển kinh tế cho cả khu vực tiểu vùng. Tại vì nước nào trên đất của họ, họ cũng phải quản.

Phối hợp thiếu chặt chẽ?

Gia Minh: Thực tế lâu nay tại khu vực Tiểu vùng Mekong cũng có những dự án và các nước tham gia; thế nhưng người ta nói rằng sự phối hợp thiếu chặt chẽ nên bị chồng chéo khiếu hiệu quả không cao? Ông nhận thấy đánh giá đó có chính xác không?

TS Trần Đại Nghĩa: Đúng, vì cam kết tiểu vùng là cam kết lỏng, không mang tính cách ràng buộc pháp lý. Do đó đề xuất của các nước chỉ mang tính chất tham khảo cho những nước chung quanh thôi. Có thể họ hỗ trợ những đề xuất thôi vì không bắt buộc. Ủy hội mang tính chất lỏng, nên đề xuất của Việt Nam vừa rồi mang tính chất ràng buộc hơn. Chứ như bây giờ chỉ có đề xuất đừng xây đập thôi, và người ta nói chỉ hoãn lại và sau xây thì không thể can thiệp vào được.

Gia Minh: Khó vì nước nào cũng có quyền lợi riêng của họ?

Có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất việc kết hợp phải đem lại tiếng nói chung tức các tác nhân trong đó đều có quyền lợi. Như vậy mới có thể bảo đảm được kết hợp.
-TS Trần Đại Nghĩa

TS Trần Đại Nghĩa: Đúng rồi. Chỉ có khi mang lại quyền lợi chung và tất cả các nước đều thấy quyền lợi đó thì mới có những cam kết ràng buộc với nhau.

Bây giờ nếu Trung Quốc tháo nước, khi về Đồng bằng Sông Cửu Long chỉ còn khoảng 30% thôi. Thế rồi phải mất vài ba tuần mới về đến chứ không phải tháo là về ngay; và các nước trên thượng nguồn cũng bị hạn. Đó là khó khăn cho Việt Nam.

Gia Minh: Như ông nói các nước phải thấy quyền lợi chung – quyền lợi chung đó là của người dân, ông thấy khi làm việc với người dân thì cách thức ứng phó từ phía họ như thế nào?

TS Trần Đại Nghĩa: Có những giải pháp mang tính cấp bách, có những giải pháp mang tính lâu dài. Có những giải pháp cấp bách người dân chủ động làm trước như tôi nói là họ thấy trồng lúa ở những nhiễm mặn bị thất thu thì họ chuyển sang nuôi trồng thủy sản. Phía chính phủ thấy chuyển đổi hợp lý thì phải xem xét lại việc trồng lúa không hợp lý thì phải chuyển sang nuôi trồng thủy sản để mang lại lợi ích tốt hơn cho người dân. Hay dân ở những vùng ven biển chuyển từ những giống lúa thông thường sang những giống lúa chịu mặn. Cho nên phải có sự hợp tác: các nhà khoa học nhập cuộc, các công ty – thậm chí một số công ty tự nghiên cứu ra giống như ở Sóc Trăng là lúa trồng được ở vùng nước lợ hay có độ mặn cao. Hoặc những giải pháp khác nhưng cũng chỉ ở mức độ thôi.

Tình hình này là cả trăm năm nay mới có nên vượt qua dự đoán của họ (người dân) do đó chính phủ phải có biện pháp như vừa rồi phải chi khoản ngân sách dự trù của chính phủ để hỗ trợ như cung cấp nước cho những vùng không có nước sinh hoạt. Hoặc những vùng mất trắng như ở Tây Nguyên thì phải cung cấp lương thực cho người ta để bảo đảm an sinh trước, còn các giải pháp kia thì tính sau.

Gia Minh: Tính bền vững được nói đến nhiều, và để có bền vững phải kết hợp giữa các cơ quan chức năng Nhà nước, các nhà khoa học, người dân và các doanh nghiệp; tuy nói rồi nhưng sự kết hợp (như thế) tại Việt Nam vẫn còn lỏng lẻo, vì sao thưa ông?

TS Trần Đại Nghĩa: Có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất việc kết hợp phải đem lại tiếng nói chung tức các tác nhân trong đó đều có quyền lợi. Như vậy mới có thể bảo đảm được kết hợp. Ví dụ tại Đồng bằng Sông Cửu Long có mô hình kết hợp rất chặt chẽ giữa doanh nghiệp, người nông dân, nhà nước và các đối tác khác như mô hình của Tập đoàn Mặt Trời ở Mỹ Tho. Họ bỏ ra để đào kênh, rồi giao hạt cho người dân trồng, cho bao và thu lúa về cơ sở chế biến của tập đoàn. Người dân chỉ ra đó tính tiền trong vòng một tháng. Lấy giá ngày nào thì công khai.

Phải tìm hiểu tại sao có mô hình thành công, có mô hình không thành công thì mới có hướng khắc phục được.

RFA

comments

SHARE