Việt Nam: từ giải phóng quốc gia đến thỏa thuận TPP

Việt Nam: từ giải phóng quốc gia đến thỏa thuận TPP

Shares

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Tổng thống Mỹ Obama bắt tay nhau.

Năm 1975, người dân Việt Nam đã kết thúc cuộc chiến tranh và chống thực dân đẫm máu nhất trong lịch sử thế giới – đánh bại Mỹ, đế quốc lớn nhất thế giới, sau 20 năm đấu tranh.

Bốn mươi năm, Việt Nam ký vào Hiệp định thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương (TPFTA).

Việt Nam đã đi vòng tròn đầy đủ: Từ một tân thuộc địa đến chia đôi giới tuyến; một đội quân chiến đóng của Mỹ lên đến 500.000 quân trong giai đoạn 1955 – 1975; cai trị bởi Đảng cộng sản từ năm 1975 đến nay và từng bước bàn giao thị trường, ngành công nghiệp, bến cảng, nguồn lực lao động cho 500 tập đoàn đa quốc gia lớn nhất của phương Tây và châu Á.

Tương phản lịch sử: 1975 và 2015

Năm 1975, chính quyền cách mạng đóng cửa tất cả các căn cứ quân sự của Mỹ và bị trục xuất tất cả các nhân viên quân sự Mỹ. Hôm nay, chính quyền Việt Nam cho phép tàu Hải quân Mỹ ghé thăm các cảng, và một thỏa thuận quân sự nhằm thoát khỏi vòng vây của “đế quốc Trung Quốc”.

Năm 1975, các nhà lãnh đạo cách mạng hứa sẽ chấm dứt khai thác rừng trồng và bóc lột lao động trong nhà máy; ngày nay chính quyền lại tận dụng và cung cấp lao động giá rẻ, với mức lương trả ít hơn ½ so với nhân công Trung Quốc – một chính sách “ưu ái” FDI.

Năm 1975, chính quyền cách mạng tuyên bố đoàn kết với cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân trên toàn thế giới; ngày nay chính quyền tuyên bố hỗ trợ vô điều kiện cho các hiệp định thương mại từ các “đế quốc lớn”, như WTO hay TPP.

Sự đảo ngược của chính trị này cho thấy điều gì? Đội tiên phong cách mạng đang thay đổi? Những yếu tố nào dẫn đến sự phân rã của phong trào cách mạng, đưa đến một tầng lớp tham nhũng kinh tế, chính trị?

Thực tế, các sự kiện bên trong và bên ngoài đóng một vai trò quan trọng trong “phá hoại lời hứa” về cải tạo xã hội – vốn được công bố bởi các nhà cách mạng Việt Nam.

Bắt đầu từ chiến tranh tàn phá cho đến cấm vận kinh tế sau chiến tranh của Mỹ. Tiếp đó, Khrme Đỏ; chiến tranh biên giới;… đã khiến cho Việt Nam buộc phải “chuyến đổi”.

Quá trình chuyển đổi khó khăn

Chính quyền cách mạng Việt Nam, trong thập kỷ đầu tiên sau chiến tranh, đã “đấu tranh” để thực hiện chuyển đổi từ môi trường kinh tế chiến tranh sang một nền kinh tế trong hòa bình.

Vào những năm 80, bốn khuynh hướng tranh giành ảnh hưởng trong Đảng Cộng sản:

(1) Một phe cách mạng.

(2) Một phe trung dung, gồm các quan chức đặc quyền, tìm cách bảo vệ và thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước. Họ hỗ trợ các “đối tác” có vốn đầu tư nước ngoài được cho là để bổ sung cho cái gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” ‘

(3) Phe thứ ba các nhà kỹ trị, những người ủng hộ việc chuyển đổi dần sang nền kinh tế tư bản, trừ một số ngành được xác định là “chiến lược ‘.

(4) Phe thứ tư, gồm các nhà kinh tế học thức và chịu ảnh hưởng bởi yếu tố phương Tây, những người tìm kiếm sự bảo đảm cho tư bản nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế.

Trong suốt thập kỷ sau, đã hình thành liên minh các nhà kỹ trị, các quan chức tham nhũng và giới tinh hoa trước cách mạng nắm quyền kiểm soát nền kinh tế. Vào giữa những năm 1990, Việt Nam không còn “cân bằng” giữa Liên Xô, Trung Quốc và tư bản phương Tây. Bởi lẽ, Liên Xô đã biến mất, Nga đang ở trong tình trạng hỗn loạn, Trung Quốc đang dồn sức cho sự phát triển tư bản chủ nghĩa bất cứ giá nào, thông qua việc tư nhân hóa các doanh nghiệp lớn…

Trong khi đó, những người cách mạng Việt Nam trong thời kỳ “giải phóng” đã được cho “nghỉ hưu” hoặc không còn vai trò gì trong thời điểm giao mùa. Họ chỉ góp mặt vào các dịp lễ trọng đại của quốc gia. Và điều này đã tạo điều kiện cho Việt Nam, khi bước sang thiên niên kỷ, các nhà kỹ trị và có tư tưởng tư bản đã chấp nhận sự toàn cầu hóa trong nền kinh tế và chính trị, khi chấp nhận làm thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Việt Nam vươn vai phát triển nhanh với tăng trưởng dao động mức 6-7%, lao động giá rẻ dồi dào, nền chính trị tập trung với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đảng cũng trở thành công cụ kiềm chế sự bùng phát của các cuộc đình công, biểu tình ở nông thôn.

Nhiều người trong số các quan chức tham nhũng lợi dụng “kinh tế thị trường” để hợp pháp hóa tài sản nhà nước và thu lợi bằng những khoản thu nhập bất hợp pháp. Hệ tư tưởng “làm giàu là tốt” len lỏi vào trong đảng.

Những kẻ thù cũ như, Nhật Bản, Mỹ và các đồng minh trở thành “đối tác” lớn của Việt Nam.

Với việc ký kết thỏa thuận TPP, Việt Nam đã mở cửa cho sự thâm nhập lớn vào nền kinh tế xã hội. Mở rộng cửa vào cho các ngành kinh tế lớn, lực lượng lao động sẽ được bảo vệ bởi công đoàn độc lập thay vì công đoàn nhà nước.

Nhưng sự mở cửa lần này cũng cho phép các công ty nước ngoài chiếm lĩnh các ngành sản xuất, bán lẻ, ngân hàng… Doanh nghiệp nhỏ sẽ bị phá sản, doanh nghiệp nhà nước sẽ được bán hoặc chấm dứt hoạt động, nông dân sản xuất nhỏ sẽ gặp nhiều khó khan khi gạo nhập khẩu giá rẻ sẽ tràn ngập thị trường.

Nhưng sự thay đổi này sẽ mở ra một giai đoạn mới cho Việt Nam – một sự thay đổi mang tính cách mạng

N.V.Hòa (VNTB)

Đất Việt là nơi tự do bày tỏ ý kiến, không có chế độ kiểm duyệt. Rất mong nhận được ý kiến của độc giả.