+ Reply to Thread
Page 39 of 39 FirstFirst ... 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39
Results 571 to 582 of 582

Thread: LẬT TỪNG TRANG SỬ (Video)

  1. #571
    Join Date
    Nov 2009
    Posts
    1,361

    Default Re: LẬT TỪNG TRANG SỬ (Video)


  2. #572
    Join Date
    Dec 2009
    Posts
    999

    Default Re: LẬT TỪNG TRANG SỬ (Video)

    Quote Originally Posted by vietamerican View Post
    Good work Vietamerican! VN needs people like us! We believe in the Truth! and FAITH will leads us to the KINGDOM of HUMAN RIGHTS for VN! The young generations in VN deserve to have a second chance for the proper EDUCATION that leads to a GOOD LIFE! As Healthy Life leads to Healthy Piece of Mind!

  3. #573
    Join Date
    Nov 2009
    Posts
    1,361

    Default Re: LẬT TỪNG TRANG SỬ (Video)

    golden007 & mình cùng nhau giúp VN...đùng để VC tuyên truyền gian trá .

  4. #574
    Join Date
    Dec 2009
    Posts
    999

    Default Re: LẬT TỪNG TRANG SỬ (Video)

    Quote Originally Posted by vietamerican View Post
    golden007 & mình cùng nhau giúp VN...đùng để VC tuyên truyền gian trá .
    U bet cha! Những thử thách nguy hiểm trong hành trình đi tìm Tự Do và những kinh nghiệm sống tốt mới đem lại cho chúng ta những tư tưởng tốt đối với đất nước VN! Còn những tư tưởng đen tối vì "xuất phát" từ nguồn "tuyên truyền bịp bợp" và có tính cách "hận thù" và "chia rẽ" tình người sẽ không đem lại sự Hòa Bình cho VN! That is for sure! Đừng để lủ VCcc qua đây gây"trouble" cho thế hệ trẻ ở hải ngoại! Thank you for your good work! It reminds me about my long journey to the KINGDOM of HUMAN RIGHTS!

  5. #575
    Join Date
    Apr 2006
    Posts
    596

    Default Re: LẬT TỪNG TRANG SỬ (Video)


  6. #576
    Join Date
    Apr 2006
    Posts
    596

    Default Re: LẬT TỪNG TRANG SỬ (Video)


  7. #577
    Join Date
    Dec 2009
    Posts
    999

    Default Re: LẬT TỪNG TRANG SỬ (Video)

    Ai chống tham nhũng bằng Chu Nguyên Chương?
    Thursday, March 11, 2010


    Ngô Nhân Dụng


    Các nhà kinh tế biết rằng nạn tham nhũng làm cho quốc gia chậm phát triển. Tham nhũng là một thứ thuế “phụ thu” làm nản lòng người đầu tư. Tham nhũng là thêm một yếu tố bất trắc khiến người ta ngại làm ăn. Một quốc gia đầy tham nhũng như Congo, Việt Nam, Campuchia, nếu nạn tham nhũng giảm bớt được một nửa thì kinh tế có thể phát triển nhanh thêm được 2 đến 3% một năm.

    Nhưng ít có kinh tế gia nào nhìn vào vấn đề tham nhũng mà thấy như Phan Bội Châu: Có bài trừ tham nhũng thì người dân một quốc gia mới phục hồi được lòng liêm sỉ.

    Giữa hai mục tiêu “phát triển kinh tế” và “phục hồi liêm sỉ,” bên nào quan trọng hơn? Ðối với một người từng làm nghề nghiên cứu và dậy môn kinh tế học, thì tôi xin trả lời rằng: Phục hồi liêm sĩ quan trọng hơn. Bởi vì dân có liêm sỉ thì kinh tế có triển vọng tiến nhanh hơn; ngược lại, kinh tế tiến bộ chưa chắc đã làm cho người ta có đức liêm sỉ.

    Kinh tế thị trường đặt cơ sở trên lòng tin tưởng, tin vào con người và tin vào các định chế xã hội. Những nước kinh tế phát triển cao nhất như Mỹ, Nhật Bản, Ðức Quốc cũng là những nước mà lòng tin cậy giữa con người với nhau trong xã hội cũng cao nhất. Ngược lại, có những nước kinh tế cũng khá cao nhưng xã hội không xây dựng được một niềm tin chung mạnh mẽ thì trình độ phát triển cũng bị giới hạn, sớm muộn sẽ “đụng trần” không lên được nữa. Khi người dân một nước sống không biết liêm sỉ thì chính nền kinh tế của họ sẽ khó phát triển. Không phải các nhà đọa đức nói như thế mà chính các kinh tế gia phải công nhận điều đó.

    Cho nên, chúng tôi muốn nhắc lại những ý kiến của Phan Bội Châu viết trước đây hơn một thế kỷ, trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư. Cụ Phan viết, “Phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Năm 1903 khi cụ viết lá thư này, đức liêm sỉ vẫn còn được dùng làm thước đo giá trị trong xã hội, những người liêm sỉ còn rất được kính trọng. Ngày nay, trên báo chí ở nước ta ít người nói đến hai chữ liêm sỉ. Tình trạng tham nhũng hối lộ thời cụ Phan, đầu thế kỷ 20 chắc chắn không rộng, sâu, và những tham quan không trâng tráo ngang ngược chiếm đoạt của công như bây giờ.

    Nhưng 100 năm trước hay là bây giờ, vấn đề khó nhất vẫn là: Làm sao để giảm bớt nạn tham nhũng, hối lộ?

    Phan Bội Châu thời đó là một nhà Nho lỗi lạc nhưng không sống trong guồng máy chính quyền; thật ra, cả cuộc đời cụ không trải qua kinh nghiệm “làm quan.” Cho nên, ngoài đề nghị giảm bớt thuế cho dân nghèo, những lời kêu gọi “huyết lệ” của cụ thường chỉ nhắm vào mặt đạo đức cá nhân. Cụ khuyến cáo hãy “thắt chặt tình trên dưới (giữa quan và dân), mở rộng đường thẳng ngay... phải lấy công tâm mà làm việc...” vân vân.

    Ðó cũng là lối chống tham nhũng, chống hối lộ suốt ngàn năm trong xã hội cổ truyền ở Á Ðông. Trương Ðình Thưởng là một tể tướng thanh liêm vào thế kỷ thứ 8 bên Tầu. Khi nhậm chức, ông ra lệnh cấp dưới phải tra cứu lại một vụ án liên can tới nhân sĩ Vô Cô, một người ông kính trọng. Ông yêu cầu trong 10 ngày phải cho biết kết quả xem vụ án có điều gì sai trái hay không. Ngày thứ hai, ông ra công đường, thấy một mảnh giấy đặt trên bàn viết mấy câu: Xin biếu ngài ba vạn quan tiền. Xin đừng hỏi lại vụ án này nữa. Trương Ðình Thưởng lặng lẽ xé vụn mảnh giấy, không cần hỏi tới. Sang ngày thứ ba, lại thấy một mảnh giấy khác: Xin biếu ngài 5 vạn quan. Trương Ðình Thưởng nổi giận! Bèn rút ngắn thời hạn, ra lệnh các “thanh tra” trong hai ngày phải xét xong vụ án cũ rồi phúc trình đầy đủ. Ðến ngày tư, trên bàn lại có mảnh giấy khác: Xin biếu ông mười vạn.

    Lúc đó Thưởng mới giật mình, “Tiền đến 10 vạn là phải có phép thuật quỷ thần! Ta sắp mang họa đến nơi rồi!”

    Bèn bỏ không tra cứu vụ án cũ nữa. Câu chuyện trên được Kỳ Ngạn Thần kể, cho biết đã đọc trong cuốn Cổ Vũ U Nhàn của Trương Cố đời Ðường. Không rõ có ai giao số tiền 10 vạn hay không, chúng tôi đoán là không. Một người nắm quyền tể tướng trong sạch và cương quyết như Trương Ðình Thưởng, cuối cùng chịu thua không chống nổi tham nhũng khi biết mình “đụng tới quỷ thần.” Quỷ thần là thứ quyền hành tuyệt đối, cao hơn mạnh hơn guồng máy pháp luật của quốc gia. Ðó là chuyện lịch sử thời Trung Ðường bên Trung Quốc; đến thời Hậu Hồ ở Việt Nam bây giờ lịch sử cũng ghi nhiều chuyện ngưng điều tra khác, kể ra không hết được. Ai đọc truyện đời nay tới đoạn Nguyễn Việt Tiến PMU 18 được phục hồi danh vọng, các nhà báo bị bắt bỏ tù; hoặc nghe vụ Hành Lang Ðông Tây Sài Gòn thấy Huỳnh Ngọc Sỹ bình tĩnh thản nhiên mặc dù công ty PCI Nhật Bản khai đã đưa lót tay ông ta hàng triệu Mỹ kim, cũng có thể suy ra rằng mọi cuộc điều tra, mọi hoạt động của guồng máy tư pháp đều bắt buộc phải ngưng lại. Cũng vì đã “đụng tới quỷ thần” rồi!

    Ðời xưa, quỷ thần là do quyền hành tuyệt đối của ông vua mà sinh ra. Vì quyền vua tuyệt đối, không bị giới hạn mà cũng không được định nghĩa rõ ràng, cho nên không ai đoán trước được nó như thế nào. Nên mới sinh ra quỷ thần. Rất nhiều người có thể dựa hơi ông vua mà bỗng nhiên có quyền thế ngất trời. Bố một người đầu bếp giúp vua hài lòng vì ăn ngon miệng; hay em ruột một phi tần được nhà vua sủng ái; hàng trăm hàng ngàn người giống như vậy, người nào cũng có thể có cơ hội xin vua gia ân hoặc giáng họa cho người khác. Dù ông vua muốn làm sạch chế độ của ông ta, nhưng nếu ông tể tướng đụng tới quyền lợi của những người này là sẽ thất bại. Ðúng là đụng tới quỷ thần!

    Ngày nay, quyền hành của Ðảng Cộng Sản cũng tuyệt đối không khác gì quyền ông vua đời xưa. Ðảng Cộng Sản nguy hiểm hơn vì nó rất mập mờ bí ẩn, khó nhận diện, và vô trách nhiệm. Không có một ông vua cụ thể nào đứng ra nói “tôi quyết định.” Ai chịu trách nhiệm khi tòa án Nhật Bản truy tố các nhà kinh doanh Nhật hối lộ ở Việt Nam? Không thấy ai trong cái bộ máy tối cao vô hình đó cả. Ðảng Cộng Sản đúng là một thứ quỷ thần vô danh vô tướng.

    Ví thử có một ông tổng bí thư cộng sản quyết tâm muốn bài trừ tham nhũng, liệu ông hay bà ta có khả năng làm hay không? Trong cuốn tiểu thuyết Thiên Nộ (Cơn giận của Trời) của Trần Phong, kể chuyện guồng máy tham nhũng tại thành phố Bắc Kinh, một nhân vật nói, “Hoàng đế nhà Minh, Minh Thái tổ, bắt được quan lại tham nhũng thì đem lột da rồi trưng bầy bộ da cho các quan chức coi mà sợ, đừng tham nhũng nữa.” Nhưng anh ta, một cán bộ trong sạch trong guồng máy, nhận xét, “Biện pháp đó không ăn thua gì cả. Tại sao? Vì cả hệ thống cai trị sinh ra tham nhũng. Mà điều quan trọng nhất là: Không có một hệ thống kiểm tra nào của dân, độc lập với nhà nước để theo dõi.” Kết luận: “Chu Nguyên Chương chỉ thi hành các biện pháp chắp vá để chống tham nhũng!” Ngay cả việc lột da các quan ăn hối lộ cũng chỉ là chắp vá! “Muốn thành công chúng ta phải có cách nhìn toàn bộ,” cuốn tiểu thuyết khuyến cáo!

    Cách nhìn toàn bộ nào? Phải thay đổi toàn thể hệ thống, nghĩa là phải bãi bỏ tình trạng chuyên chế độc tài của một đảng! Chính cái đảng cầm quyền tuyệt đối, trên đầu không có ai, chính nó là nguồn gốc sinh ra tham nhũng. Dù có thay thế cái đảng đó bằng một đảng khác, dùng toàn những bộ mặt mới, con người mới, nhưng nếu vẫn giữ cơ chế độc quyền và quyền hành tuyệt đối, thì vẫn hỏng. Cơ chế vẫn như cũ, thì làm gì cũng vẫn chỉ là biện pháp chắp vá mà thôi! Chính cơ cấu độc quyền chuyên chế đẻ ra nạn tham nhũng, chứ không phải vì có những con người xấu mà sinh ra tham nhũng. Quyền hành sinh nhũng lạm, quyền hành tuyệt đối thì nhũng lạm tuyệt đối.

    Chúng ta sống sau cụ Phan 100 năm, hiểu rõ hơn về xã hội cũng như guồng máy chính trị của loài người, cho nên biết những lời khuyến cáo đạo đức rất quý báu nhưng không đủ. Phải tìm trị căn nguyên của bệnh tham nhũng và hối lộ do các định chế chính trị sinh ra. Chuyên chính là nguồn gốc của tham nhũng, vì nó trao quyền hành tuyệt đối vào tay một nhóm người không chịu trách nhiệm với ai cả. Năm 1958, ngày 28 tháng 1, ông Hồ Chí Minh nói chuyện với các “học sinh” Trường Công An Trung Ương, ông hỏi họ, “Các cô các chú có muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội hay không?” Và ông nhắc đi nhắc lại một khẩu hiệu rất nhiều lần, “Dân Chủ và Chuyên Chính đi đôi với nhau. Muốn dân chủ thật sự phải chuyên chính thật sự... Có chuyên chính thật sự, có dân chủ thật sự thì mới tiến lên chủ nghĩa xã hội được...” (Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 9, trang 29).

    Ðó là chủ nghĩa Lê Nin. Muốn chống tham nhũng có hiệu quả, phải gột rửa tư tưởng Lê Nin Nít đó trước hết. Chỉ khi nào trong cơ cấu chính trị quốc gia có phân quyền, có các cơ quan quyền lực ngang hàng để cân bằng và kiểm soát lẫn nhau, chúng ta mới hy vọng bắt đầu chống tham nhũng. Khi nào người dân được tự do nói, tự do hội họp, tự do bầu cử và ứng cử, thì mới thiết lập được các định chế phân quyền. Nếu chưa có các điều kiện đó, nói gì cũng chỉ là nói xạo mà thôi.

    Nghe nói xạo mãi, người dân khinh bỉ bọn cầm quyền. Nhưng chính người dân cũng bị tác hại: Nghe nói dối quen, người ta mất cả khái niệm về danh dự, về liêm sỉ. Ngày xưa Phan Bội Châu khuyên dân tộc Việt Nam phải bài trừ tham nhũng để người dân phục hồi đức liêm sỉ. Một thế kỷ sau, điều này còn khẩn cấp hơn thời cụ Phan viết Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư gấp trăm, gấp ngàn lần!

  8. #578
    Join Date
    Dec 2009
    Posts
    999

    Default Re: LẬT TỪNG TRANG SỬ (Video)

    Việt Nam sau 35 năm chiến tranh: Những bài không chịu học
    Monday, May 17, 2010

    Góc Chiến Trường Xưa:

    Bài viết của Jackie Bông

    Những huyền thoại về cuộc chiến


    Ðại Sứ John Negroponte, cựu phụ tá bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ đã đặt ra một lô những chữ “Nếu” cho 150 người trong cử tọa, nhân phát biểu tại cuộc hội nghị được tổ chức ở Câu Lạc Bộ Army Navy Club tại Washington, nhằm lượng giá về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 35 năm sau khi chiến tranh kết thức.

    “Nếu mà Tổng Thống Roosevelt còn sống thì nước Mỹ không ủng hộ cho người Pháp trở lại Việt Nam? Nếu mà chúng ta biết rõ hơn về chuyện xích mích giữa Liên Xô và Trung Quốc? Nếu mà Tổng Thống Ngô Ðình Diệm không bị ám sát? Nhưng vì do những cái trớ trêu bất thường của lịch sử đại loại như vậy mà sự việc đã xảy ra khác hẳn đi.

    Năm diễn giả chính yếu khác và 10 tham luận viên, cả người Việt và người Mỹ, đã phân tích những trận chiến mà họ coi là khúc quanh của cuộc chiến tranh Việt Nam.

    Cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968, những trận đánh lớn ở Huế, An Lộc, Quảng Trị; Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Hiệp Ðịnh Hòa Bình Paris, và những bài học đã thu lượm đã được mổ xẻ trong các buổi thảo luận trong từng nhóm. Chủ ý của các tham luận viên rõ ràng là nhằm phục hồi lại danh dự cho Quân Lực Miền Nam Việt Nam.

    Tết Mậu Thân 1968:

    Tiến Sĩ Erik Villard, sử gia, là diễn giả đầu tiên đã trình bày về cuộc tấn công này. Ông nói, “Ðây đích thực là một cuộc nội chiến tại Nam Việt Nam giữa người quốc gia Việt Nam với quân Cộng Sản xâm lăng từ miền Bắc. Ông mô tả trận chiến lừng danh này với quy mô và sự phức tạp trong kế hoạch của Việt cộng và sự phản công lúc đầu coi như tuyệt vọng, mà lại rất thành công của phía miền Nam và Ðồng Minh. Nhưng ông nói, “Bi đát thay cái sự thắng lợi này lại bị thế giới coi như là một thất bại.”

    Ðại Tá Trần Minh Công bổ túc thêm. Ông nói đến 50 phần trăm quân đội VNCH được nghỉ phép ăn Tết giữa lúc quân Cộng Sản tấn công. Ông ra lệnh cho tiểu đoàn cảnh sát tiến chiếm lại Dinh Tổng Thống ở Saigon, trong khi các đơn vị khác thì hợp nhau lại để tái chiếm những đồn bót vừa mới bị Cộng quân chiếm giữ.

    Tờ tuần báo Time tường thuật, “Quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu áp lực nặng nề lúc khởi đầu với sự dũng cảm và mau lẹ mà hầu như ít có ai lại có thể ngờ được.” Cố Ðại Sứ Ellsworth Bunker nói, “Chính phủ đã không sụp đổ. Trái lại, họ đã phản ứng mạnh bạo, mau mắn và quyết chí. Chính quyền đã tổ chức sự phục hồi với nỗ lực lớn lao.”
    Ðại Tá Công phàn nàn, “Ấy thế mà giới truyền thông người Mỹ lại coi vụ Tết Mậu thân là 'khởi sự cuộc chấm dứt chiến tranh' Việt Nam (The beginning of the end of the Vietnam War).”

    Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, học giả và cựu giảng viên tại Ðại Học George Mason kể lại, “Trong dịp tấn công Tết Mậu Thân, cố đô Huế là nơi duy nhất quân Cộng Sản đã thiết lập được một chính quyền dân sự. Họ phát động cuộc tàn sát, giết hại hàng ngàn người mà họ gọi là 'kẻ thù của Cách mạng' trong suốt 25 ngày chiếm đóng thành phố vào tháng 2, năm 1968.”

    “Họ tàn sát đến 6,000 thường dân vô tội, bất kể đó là giáo sư đại học, giới kinh doanh, phụ nữ, người già và cả đến trẻ em, tạo ra viễn cảnh kinh hãi của chế độ Cộng Sản. Hàng ngàn người bị coi là ‘tay sai Mỹ ngụy’ đã bị tra tấn, giết hại và cả bị chôn sống do lệnh của Tòa Án Nhân Dân Việt cộng mà gồm những cán bộ và dân làng được lựa chọn một cách ngẫu nhiên.”

    Vẫn theo lời Giáo Sư Bích, “Vụ thảm sát ở Huế tương tự như 'cánh đồng giết người' (killing fields) dưới chế độ Pol Pot ở Cambodia, hay ‘lò thiêu người’ hồi Thế Chiến Thứ Hai của Ðức Quốc Xã.”

    Hội nghị cũng phản ánh quan điểm của các chuyên gia khác. Ông Lewis Sorley, sử gia chuyên về chiến tranh Việt Nam và là giáo sư tại West Point và tại Học Viện Chiến tranh của Lục Quân Mỹ, nói là hồi năm ngoái tại Ðại Học Texas Tech rằng những cái nhìn lệch lạc phát xuất từ chiến dịch bôi nhọ toàn thể chế độ miền Nam Việt Nam và cuộc chiến đấu lâu dài và khó khăn của họ, cho đến lời tố cáo vô liêm sỉ của Jane Fonda cho rằng, “Các tù nhân Mỹ khi hồi hương mà đã tố cáo bị người Cộng Sản tra tấn hạ nhục đều là những 'kẻ nói dối' và 'giả hình'.”

    Cuộc tấn công dịp Lễ Phục Sinh 1972:

    Trong ba tháng mà tỉnh An Lộc bị vây hãm vào tháng 4, 1972 cũng bị giới truyền thông Mỹ bóp méo sự thật. Tiến Sĩ James Willbanks cho cử tọa thấy là, “Kết quả là cả hai bên đối chiến đều bị tổn thất kinh hoàng, nhưng cuối cùng thì quân đội kiên cường của miền Nam đã kiểm soát được thành phố, sau khi kết thúc trận chiến đẫm máu.”

    Ðại Tá Phan Văn Huấn, chỉ huy Lữ Ðoàn 81 Biệt Cách Dù và Trung Tá Nguyễn Lân phụ tá chỉ huy, kể lại họ đã đẩy lui được quân đội Bắc Việt và ngăn chặn hướng tiến công của Cộng Sản vào thủ đô Saigon, lập ra được vòng đai phòng thủ vững mạnh chống lại quân số lớn hơn hẳn của địch quân. Họ đã cầm cự được cuộc tấn công liên tục của Bắc quân, đẩy lui được ba vụ xung phong tấn công tới tấp từ phía địch quân.
    Trận chiến ở Quảng Trị:

    Ba nhân vật sau đây thảo luận về trận chiến này. Ðó là Ðại Tá Phạm Văn Chung, Ðại Úy Nguyễn Việt và ông Dale Andrade, một sử gia và tác giả của ba cuốn sách về cuộc chiến tranh Việt Nam. Các vị này tường trình rằng Sư Ðoàn 308 và hai trung đoàn độc lập của quân đội miền Bắc vượt qua khu vực phi quân sự để tiến vào miền Nam, trong khi Sư Ðoàn 304 thì từ phía Lào ở phía Tây cũng xâm nhập vào. Ðại quân đó quét sạch cả hệ thống căn cứ nhỏ của quân đội miền Nam có nhiệm vụ canh giữ quốc lộ 9, và tiến chiếm vùng thung lũng Quảng Trị.

    Mục tiêu của giới lãnh đạo Hà Nội là “tạo được một chiến thắng quyết định trong năm 1972 và bắt buộc cho đế quốc Mỹ phải thương thuyết việc chấm dứt chiến tranh từ vị thế của kẻ thất bại.” Quân đội miền Nam bị phân tán và rút lui, nhường đất cho Cộng quân. Nhưng Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, một tướng lãnh xuất sắc của miền Nam đã được nắm quyền chỉ huy và lần hồi đã tái chiếm được miền Nam Quảng Trị và cả Cổ Thành.
    Quân đội Bắc Việt bị thương vong đến 100,000 quân là phân nửa tổng số lực lượng của họ, kể cả 40,000 quân bị tử trận, và còn bị mất phân nữa số chiến xa và trọng pháo. Kết quả là chính Tướng Võ Nguyên Giáp, người anh hùng đã đánh thắng người Pháp ở Ðiện Biên Phủ, đã bị loại ra khỏi vị trí chỉ huy quân đội Bắc Việt. Kết quả này đã không được giới truyền thông Mỹ tường thuật chính xác.


    Có một bài học nào được rút ra chăng?


    Nhiều người tin rằng người Mỹ hiểu biết rất ít về cuộc chiến tranh Việt Nam, mặc dầu nó đã chấm dứt trên ba thập niên rồi. Trong một bài báo nhan đề “Lịch sử chứng minh kẻ thắng trận ở Việt Nam đã sai lầm” được đăng tải trên Báo Wall Street vào tháng 4, năm 2000, Nghị Sĩ James Webb đã liệt kê giới truyền thông báo chí, giới hàn lâm đại học và Hollywood là những nhóm “đã có trách nhiệm rất lớn cho thấy cuộc chiến được tưởng nhớ là vừa không cần thiết và vừa không thể chiến thắng được.”

    Hàng ngàn bài báo, cuốn sách, bản phúc trình quân sự, bài nghiên cứu trận đánh và các hồi ký về cuộc chiến tranh 10 năm vẫn tiếp tục không bị đem ra thách đố hay được chấp nhận như là những sự kiện mà không hề có sự phân tích chiều sâu trong giới sử gia. Người quá cố Douglas Pike là nhà phân tích chính trị đã viết rất nhiều về Việt Nam, đã bình luận rằng, “đó là những người bị lừa bịp bởi giới ký giả ngu dốt của loại truyền hình thương mại và giới hàn lâm theo phe tả thiên lệch về một sứ mệnh ý thức hệ.”

    Ông George Veith là một tác giả chuyên viết về Việt Nam, mà hiện đang hoàn thành cuốn sách - Tháng Tư Ðen: Cuộc Thất Trận của Nam Việt Nam1975 - nói về những huyền thoại về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam.
    Ông nói Hà Nội trông đợi chánh quyền Nam Việt Nam sụp đổ một khi người Mỹ rút khỏi năm 1972. Nhưng sự việc đó đã không xẩy ra, và quân đội Việt Nam lại mỗi ngày một mạnh hơn lên, như được chứng tỏ trong trận An Lộc và Quảng Trị vừa nêu trên. Thế rồi, từ năm 1973 cho đến tháng 3, năm 1975, quân đội miền Nam đã gây những thất bại nặng nề cho quân đội Bắc Việt, khiến cho Tướng Võ Nguyên Giáp bị mất chức. Ông Veith xác tín rằng quân lực Việt Nam Cộng Hòa không hề yếu kém và hèn nhát như giới truyền thông báo chí Mỹ thường tô vẽ ra.

    Vì coi việc Tổng Thống Nixon từ chức như là một dấu hiệu rằng người Mỹ sẽ bỏ rơi miền Nam, nên Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Hà Nội mới quyết định 'giải phóng' miền Nam trong thời hạn 2 năm 1975-76 bằng cách tung ra những cuộc tấn công đại quy mô.

    Họ đã vi phạm Hiệp Ðịnh Ðình Chiến Paris mà họ đã ký kết với Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam. Khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam năm 1972 và Quốc Hội cắt hết viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam vào tháng 3, năm 1974, ông Veith nói, “Với những bất lợi về địa lý, quân đội miền Nam không thể nào ngăn chặn được một cuộc tấn công đồng loạt trên khắp cả nước mà không có sự trợ giúp của Không Lực Mỹ.”

    Tham nhũng có phải là nguyên nhân gây ra sự sụp đổ của Nam Việt Nam không? Ông Sorley thuật lại lời của Tom Polgar, giám đốc CIA ở Saigon lúc bấy giờ biện luận rằng, “Nước này có thể tồn tại được dù với một chánh quyền thối nát, y như trường hợp của Phi Luật Tân, Nam Hàn, Thái Lan hay bất kỳ nước nào.” Trong một nước mà người công chức không được trả lương phải chăng, thì đều có nạn tham nhũng là chuyện thường xẩy ra trên đời.” Ðại Tá William Legro, tùy viên Quân Sự ở Việt Nam cũng đồng ý như thế, ông nói, “tham nhũng không phải là nguyên nhân làm sụp đổ mà chính là sự giảm bớt đến độ zero mọi viện trợ của Mỹ mới là nguyên nhân. Chúng ta đã làm cái điều tai hại khủng khiếp đối với người miền Nam Việt Nam.”

    Cựu đại sứ tại Mỹ Bùi Diễm là một trong những người đứng ra tổ chức cuộc hội nghị này cũng than phiền về việc Quốc Hội Mỹ cắt hết viện trợ. “Tôi không thể không giận dữ trước sự việc bất công vì dự luật viện trợ quân sự bị bác bỏ tại Quốc Hội. Vấn đề chính yếu trong tâm trí tôi là số phận của hàng triệu người dân miền Nam Việt Nam phải chịu đựng như thế nào một khi Quốc Hội đã quyết định.”

    Ông Sorley đưa ra những con số như sau, “Tại Việt Nam, có thể có đến 65,000 người bị hạ sát bởi tay của những người tự nhận là quân giải phóng và có đến 250,000 người nữa bị chết trong các ‘trại cải tạo’ tàn bạo. Hai triệu người bị bứng ra khỏi quê hương và tạo thành lớp người Việt Nam tại hải ngoại.” Một phần tư triệu thuyền nhân đã bỏ mình ngoài biển khơi.

    Ông Hoàng Ðức Nhã, nguyên tổng trưởng Thông Tin và Chiêu Hồi là người phụ trách việc đúc kết của đại hội nói, “Cuộc chiến Việt Nam được nhìn qua lăng kính của người Mỹ khiến làm biến dạng méo mó sự thể tìm hiểu tại sao người cộng sản chiến thắng và người quốc gia thua trận. Ông lưu ý cử tọa rằng, trong khi còn nguy khốn, miền Nam đã cố gắng xây dựng một chế độ dân chủ với một nền kinh tế lành mạnh, dựa trên nền tảng luật pháp. Ðó là một cố gắng ít được nghe thấy trong một nước đang có chiến tranh.”

    Ông nói tiếp, “Hơn thế nữa, ngay cả trước tình thế phải chiến đấu liên tục, chánh quyền cũng cho thi hành một chiến lược phát triển ba mặt về phát triển nông nghiệp, kỹ nghệ sử dụng nhiều lao động, và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Năm 1974, dầu khí đã được tìm thấy ngoài khơi bờ biển miền Nam. Ấy thế mà những thành tựu như thế lại ít được ai công nhận.”

    Tiến Sĩ Rufus Philipps, tác giả của cuốn sách mới đây mà được ca tụng rất nhiều - Why Vietnam Matters - đưa ra nhận định trong một tài liệu được chuẩn bị riêng cho Hội nghị. Ông trích dẫn câu trả lời của Tướng Maxwell Taylor cho câu hỏi tại sao chúng ta thất bại tại Viêt Nam? Vị cựu đại sứ tại Việt Nam nói vào hồi cuối cuộc đời của mình, “Chúng ta đã không hiểu kẻ địch, không hiểu người bạn đồng minh Nam Việt Nam, và cũng không hiểu chính chúng ta nữa. Chúng ta đã không hiểu làm sao mà đối phó với cái loại chiến tranh đó cho đến khi quá muộn. Từ lâu, giới hoạch định chính sách cao cấp ở Washington và giới lãnh đạo chóp bu của chúng ta ở tại chỗ, với lòng tự ái được thổi phồng bởi nghề nghiệp đầy hứa hẹn trong những nỗ lực của họ, thì họ lại ít có sự bao dung đối với những quan điểm khác biệt được dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn không đồng ý với họ.”

    Cuối cùng, Tiến Sĩ Phillips có lời khuyên, “Người Mỹ chúng ta có một nhu cầu thiết tha là phải tìm hiểu các người bạn mà chúng ta muốn giúp. Chúng ta không thể áp đặt những giải pháp đã được làm sẵn tại Mỹ (made-in-America), nhưng phải cùng làm việc chung như người đồng sự kể như là anh em với nhau, để chúng ta giúp các bạn đó tìm ra các giải pháp riêng của họ. Ðó là những bài học chúng ta không được luôn luôn chú ý tiếp thu và không chịu học.

  9. #579
    Join Date
    Jun 2010
    Posts
    14

    Default Re: LẬT TỪNG TRANG SỬ (Video)

    Quote Originally Posted by ChanhPhap84 View Post
    Các phường tuồng thường chửi VC bán đất , bán đảo sao hôm nay ngậm mồm chẳng nói được lời nào. Cứ tuyên truyền , chửi bới một chiều , bẻ cong lịch sử để chạy tội. Đừng lừa dối và xuyên tạc lịch sử là không minh chánh. Hãy trả lại sự thật cho lịch sử. Có ai muốn bênh vực cho VNCH bán đứng Hoàng Sa cho Trung Cọng thì lên tiếng.
    Mr chanhphap84 nói rằng VNCH đã bán đứng Trường Sa cho Trung cộng.Vậy tại sao họ lại đổ máu ra để tử chiến trong trận hải chiến cuối năm 1973 đầu năm 1974.trận đánh này ai cũng biết.Còn cái vụ cộng sản bắc việt bán đứng tổ quốc như thế nào và cho tới bây giờ người dân VN ai cũng biết.Hôm nay và tại thời điểm này Trung cộng đang là gì ở Trường Sa và Hoàng sa vậy mr chanhphap84 và chính quyền cs hiện tại ở VN luôn mồm la hét rằng quần đảo trên thuộc chủ quền VN nhưng co dám làm gì không.......?

  10. #580
    Join Date
    Jun 2010
    Posts
    14

    Default Re: LẬT TỪNG TRANG SỬ (Video)

    Quote Originally Posted by ChanhPhap84 View Post
    *** Để công bằng trong lịch sử , tôi xin dẫn chứng tài lệu nói về việc bà 7 Vân vợ Lê duẩn thuật lại với báo chí năm 2008 để bạn đọc rộng đường suy luận. Vì tôi chưa tin phía nào một chiều như viviOO.

    Ngày 21 tháng 12 năm 2008, đặc phái viên “NED”BBC Xuân Hồng đã dụ khị phỏng vấn Bà Bảy Vân (bà có thật là vợ chánh Tổng Bí thư Lê Duẩn không? ĐDTB), không ngờ, bà đã kết tội chồng bà TBT Lê Duẩn dâng Hoàng Sa cho Trung quốc, là bà nói rằng: “Trung Quốc lấy cái thế là trước kia ông Phạm Văn Đồng có ký một văn bản cho phép Trung quốc quản lý ở Hoàng Sa vì 'ngụy' đã đóng ở đó”. Bà Bảy Vân, vô ý thức, trình độ chính trị ăn đong và chẳng biết gì về Đảng CSVN. Thế là, bà “ngụy tưởng tưởng, và phản động” phịa chuyện Thủ tương Phạm Văn Đồng có ký một văn bản dâng Hoàng Sa, để kết án TBT Lê Duẩn phản quốc.



    Nếu thật bà Bảy Vân là vợ chánh (là Mẹ ruột của Tiến sĩ Lê Kiên Thành, con trai trưởng, quân hàm Đại úy) hay vợ hờ của Lê Duẩn? thì thời đó bà Vân chỉ là phục dịch nội trợ lo cho gia đình, chẳng có quyền lực, chức vụ hay ủy viên BCT …. đảng CSVN. Thế nên, bà Bảy không biết TBT Lê Duẩn thâu tóm quyền lực Đảng CSVN từ năm 1957 – 1959, click đọc TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ I) & (KỲ II) (trong tuyển tập TBT Lê Duẩn, có bài viết Bắt Đầu Cuộc Thâu Tóm Quyền Lực của đài BBC, ngày 4/5/06), bà nên nhớ quyền lực TBT Lê Duẩn uy lực vô cùng, có thế TBT Lê Duẩn, thực hiên được hoài bảo thống nhất đất nước vào năm 1975. Cho nên Thủ tướng Phạm Văn Đồng không thể đạp lên quyền lực và quyền uy TBT Lê Duẩn vào năm 1958, để tự ký văn bản (văn bản Ma do bà ‘ngụy ngôn’) cho phép Trung quốc quản lý Hoàng Sa.



    Để cuối cùng, bà lại tráo trở dựng chuyện phịa là: Và khi đất nước thống nhất rồi, bà Bảy Vân cho biết ông Lê Duẩn đã nói: “Bằng cách nào cũng phải chiếm lại Hoàng Sa”, sao bà Bảy Vân dựng chuyện quá tồi, chẳng qua bà là nữ nhi già khùng khùng điên điên, là có ai đã dâng Hoàng Sa, lại phải “Bằng cách nào cũng phải chiếm lại Hoàng Sa”



    ĐDTB nghi Bà Bảy Vân là vợ hờ của TBT Lê Duẩn? đầy quyền uy nhất nước từ năm 1957 đến 1986, cho nên bà Bảy Vân được TBT Lê Duẩn yêu thương ban cho chức vụ Phó tổng Biên Tập báo Sàigòn Giải Phóng, tờ báo Đảng, không cần kiến thức và trình độ chính tri đảng viên CSVN. ĐDTB nhấn mạnh cho bà biết, công cuộc đổi mới, Kinh Tế Thị Trường Trong Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa (KTTTTĐHXHCN) có từ thời chồng bà TBT Lê Duẩn, từ năm 1964 (theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh), nhưng vì chiến tranh không thực hiện được cho đến khi an ninh tổ quốc bền vững.vào năm 1986 và trong thời gian vài tháng TBT Lê Duẩn trước khi mất năm 1986, TBT Lê Duẩn và Đảng đang thực hiện chính sách đổi mới cải cách KTTTTĐHXHCN, để rồi Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt….thực hiện chính sách cải cách đổi mới “bền vững - dục tốc bất đạt”của Đảng đạt nhiều thành công. Nhưng đế quốc Mỹ và Việt gian VNCH phản động đã “bơm vá” Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người khởi xướng Cải cách đổi mới phát triển đất nước (sic)



    Bà có biết không? Vào ngày 2/12/07, Trung quốc có quyền tự do tuyên bố lếu láo thành lập đơn vị hành chánh Tam Sa trong đó có Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, nhưng có thực hiện được hay không? mặc dầu đế quốc thực dân xâm lược Mỹ-Pháp đều biết rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam mà bọn chúng xâm lăng, tuần tra, khảo sát và đô hộ Việt Nam trên 100 năm.



    Nhưng bọn đế quốc xâm lược Pháp-Mỹ muốn Biển Đông dậy sóng, người Á châu giết nhau vào thế kỷ 21, cho nên đế quốc Mỹ thay Pháp đô hộ nừa nước Miền Nam VN, đã thỏa thuận ngầm cho Trung quốc chiếm 3/4 đảo Hoàng Sa vào năm 1954, và chiếm thêm 1/4 còn lai, toàn bộ vào năm 1974, trước khi chiến bại bỏ chay vào năm 1975 (hải quân Trung quốc từ năm 1950 đến 1975 chỉ là con dế mèn làm sao sánh bằng Con Voi Hạm đội 7 USA, ngay thế kỷ 21, gom các hạm đội cả nước Trung Hoa đối đầu Hạm đội 7 USA, chỉ trong vòng 3 giờ hải quân Trung quốc bị tiêu diệt toàn bộ chìm xuống biển Đông),



    Mỹ đã diễn tuồng để chính Ngụy VNCH dâng 1/4 Hoàng Sa còn lại cho Trung quốc đã được phụ tá Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, là ông Nguyễn Văn Ngân xác nhận qua bài viết dưới đây. Thật vây, nếu có văn bản ký dâng Hoàng Sa cho Trung Quốc thì Trung quốc đã công bố cho thế giới biết rõ sự việc và Mỹ-Pháp chạy tội âm mưu thỏa thuận ngầm cho TQ chiếm đất VN, như thế Việt Nam không còn đủ tư cách vận động ngoại giao hòa bình lấy lại Hoàng Sa. Không những thế Việt gian VNCH, đã diễn tuồng cho Mỹ và chạy tội dâng Hoàng Sa cho TQ. Chúng dùng bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi cho Thủ tướng Chu Ân Lai, ghi nhận và tán thán bản tuyên ngôn, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước Công hòa Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc. Thế mà chúng quá ngu dốt và đần độn cho đây là: VĂN KIỆN CHỨNG MINH CỘNG SẢN HÀ NỘI DÂNG ĐẤT CHO CỘNG SẢN BẮC KINH



    Trong tình nghĩa anh em Việt - Trung và nhất là để minh định lãnh thổ nước Trung Hoa bao gồm cả hai đảo KIM MÔN và MÃ TỔ đang bị Đài Loan chiếm giữ ở trong lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. TBT Lê Duẩn và Đảng CSVN, đã ủy nhiệm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết bức thư gởi cho Thủ tướng Chu Ân Lai ghi nhận và tán thán bản tuyên ngôn, ngày 4 tháng 9 năm 1958, công nhận lãnh hải 12 hải lý, chứ không phải là VĂN KIỆN DÂNG ĐẤT, mà bọn Việt gian VNCH khùng khùng điên điên ngụy tích và chạy tội dâng Hoàng Sa cho Trung Quốc đó ạ!



    Qua những dẫn chứng này, Bà Bảy Vân, phải đến trước mô TBT Lê Duẩn tạ tội, bằng chén thuốc độc, nhưng trước đó bà phải đến trước Lăng Bác Hồ quỳ lại bảy ngày đêm tạ tội với Bác, toàn dân và toàn đảng Việt Minh Cộng Sản Đảng





    "NED/BBC"
    Xuân Hồng phỏng vấn Bà Bảy Vân tại nhà riêng
    Sưu tầm hay dẫn chứng rốt cuộc tay chanhphap84 này cũng là phường giảo hoạt,lời nói chẳng đâu vào đâu.tự xưng mình là VC mà chẳng biết tý gì về cụ duẩn cả,rõ ngốc.cụ ta là tay chơi tầm cở đấy,vợ thì chẳng biết bao nhiêu bà còn quyền hành thì khuynh đảo cả đảng csvn.Còn tui chỉ hiểu đơn giản bải chất của chnhphap84 là ngu mà còn lỳ nữa,3 cái trò lừa đảo mị dân của cộng sản bây giờ xưa như trái đất.vừa ăn cướp vừa la làng

  11. #581
    Join Date
    Jun 2010
    Posts
    14

    Default Re: LẬT TỪNG TRANG SỬ (Video)

    Quote Originally Posted by bonVNCHchochet View Post
    Thôi được rồi để bố đây nói cho lũ VNCH nghe nhé.
    Vì sao Việt Nam lại cải tổ tất cả các lĩnh vực kinh tế sau khi giành được độc lập năm 75. Đó là vì khi đó chúng ta đang "chơi chung" trong khối XHCN cùng với Liên Xô là anh cả, khi đó cả khối XHCN và TBCN đều đang leo thang trong chiến tranh lạnh. Do đó chúng ta không thể tự mình quyết định một mình được. Mặc dù lúc đó đã có rất nhiều ý kiến tích cực trong việc cải tổ nền kinh tế, nhưng đều không thể thực hiện cũng là do nguyên nhân trên. Mà vì sao chúng ta cứ phải nghe lời Liên Xô, cứ tách ra chơi riêng có phải khỏe không??? Đó là bởi vì nhờ có cái bọn chó VNCH cứ rình rập cắn trộm, nếu chúng ta "chơi lẻ" thì khi đó sẽ có nguy cơ mất nước vào tay lũ súc vật một lần nữa. Thế đấy, cho nên đừng có post mấy cái video lên làm gì chướng lỗ "ít" lắm!!!
    hây za ông này là quái nhân,xem bằng lổ đít kìa hihihihihihhi.-Ngay bây giờ ông bạn có thể tìm kiếm cho mình 1 cái lổ cống nào đó sẵn đi để mai mốt chế độ có thay đổi thì còn biết đường mà chun cho lẹhihihihi

  12. #582
    Join Date
    Dec 2009
    Posts
    999

    Default Re: LẬT TỪNG TRANG SỬ (Video)

    Ngàn năm gương cũ
    "........Nhà cầm quyền CSVN hiện nay ở Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long vào ngày 1-10-2010, tức ngày 24-8 năm Canh Dần (âm lịch). Trong lịch sử Việt Nam, ngày 1-10 không ghi dấu bất cứ một sự kiện quan trọng nào của đất nước. Trong lịch sử thế giới, ngày 1-10-1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tức 1-10 là ngày quốc khánh của Cộng sản Trung Quốc......" - Trần Gia Phụng



    NGÀN NĂM GƯƠNG CŨ



    Trần Gia Phụng


    1.- RỒNG BAY CÁCH ĐÂY MỘT NGÀN NĂM

    Sau khi đảo chánh, lật đổ nhà Tiền Lê vào cuối năm 1009 (kỷ dậu), Lý Công Uẩn lên ngôi vua năm 1010 (canh tuất), lấy niên hiệu là Lý Thái Tổ (trị vì 1010-1028), lập ra nhà Lý (1010-1225). Việc đầu tiên của Lý Thái Tổ là quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, và đổi tên là Thăng Long vào tháng 7 năm canh dần.

    Việc dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La được Lý Thái Tổ giải thích như sau: “Ngày xưa, nhà Thương [Trung Hoa, 1783-1123 TCN] đến đời Bàn Canh [vua Thương thứ 17, 1401-1374 TCN] năm lần dời đô, nhà Châu [Trung Hoa, 1134-256 TCN] đến đời Thành Vương [vua Châu thứ 3, 1115-1079] ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu? Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ của Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương [Cao Biền], ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng nầy mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở...”( Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư [chữ Nho], Hà Nội: bản dịch tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, 1998, tr. 241.)

    Nói như thế, nhưng quyết định dời đô của Lý Thái Tổ bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa hơn là chiếu chỉ đã viết. Vùng Hoa Lư là địa bàn sinh hoạt của đại gia tộc nhà Tiền Lê. Lý Thái Tổ lật đổ nhà Tiền Lê và cướp chính quyền. Cuộc đảo chánh bề ngoài xem ra êm ái, ít được sử sách ghi lại chi tiết. Có thể vì “lịch sử thuộc về kẻ chiến thắng”, vua quan nhà Lý không muốn nhắc đến việc nầy, nên đời sau không biết mà ghi lại. Tuy nhiên một đại gia tộc như nhà Tiền Lê, với khoảng 10 hoàng tử đã từng tranh quyền với nhau, hoàn toàn bị tiêu diệt, ắt hẳn phải xảy ra một cuộc tranh chấp rất gay gắt. Có thể Lý Thái Tổ lo ngại thế lực còn lại của nhà Tiền Lê, hoặc dư âm của cuộc đảo chánh, không muốn ở lại địa bàn còn nhiều ảnh hưởng của triều đại trước.

    Thứ đến, thành Đại La nằm gần Bắc Ninh, nơi xuất phát của Lý Thái Tổ và quân sư của ông là thiền sư Vạn Hạnh. Bắc Ninh là chiếc nôi của Phật giáo nước ta, nơi từ đầu Công nguyên có thành Luy Lâu (cách Hà Nội ngày nay 20km), được xem là trung tâm Phật giáo đầu tiên của nước Việt, cũng là nơi có chùa Pháp Vân (chùa Dâu) được thành lập từ thế kỷ thứ 6. Các thiền sư Phật giáo là những người hậu thuẫn mạnh mẽ cho Lý Thái Tổ. Do những lẽ đó, Lý Thái Tổ mới quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long,

    Thành Đại La (Thăng Long) được ưu điểm hơn thành Hoa Lư ở vị trí trung tâm nước ta lúc đó, nằm trên sông Hồng, dễ giao thông liên lạc, nhưng về địa lý chính trị, trong thế đối kháng với Trung Quốc thời bấy giờ, thì thành Đại La không lợi thế bằng thành Hoa Lư.

    Hoa Lư ở xa biên giới Trung Quốc hơn Đại La, đường sá lúc bấy giờ đi lại khó khăn, nên người Trung Quốc khó tấn công hơn. Có thể chính vì Đại La gần Trung Quốc, dễ giao thông liên lạc với Trung Quốc, nên nhà cầm quyền Trung Quốc chọn Đại La làm thủ phủ của Giao Châu (cổ Việt) do họ đô hộ. Cũng có thể chính vì thế, mà nhà Đinh, và nhà Tiền Lê bỏ Cổ Loa (Đông Anh, Phúc Yên), kinh đô của Ngô Quyền, gần Đại La và gần Trung Quốc, mà chọn Hoa Lư ở Ninh Bình làm thủ đô, xa biên giới Trung Quốc hơn, nhằm tránh áp lực tấn công của Trung Quốc.

    Để thu hút quần chúng, lúc đó còn nhiều mê tín dị đoan, Lý Thái Tổ tạo ra huyền thoại rằng khi nhà vua đi thuyền đến Đại La, có rồng xuất hiện trên bầu trời báo điềm lành, nên nhà vua cho đổi tên Đại La thành Thăng Long (rồng bay). Đến năm 1014 (giáp dần) Lý Thái Tổ cho xây thành Thăng Long bằng đất, ngay trên vị trí của thành Đại La cũ.

    2.- KINH NGHIỆM NGÀN NĂM

    Kể từ khi Lý Thái Tổ chọn Đại La làm kinh đô và đổi tên thành Thăng Long, tính cho đến ngày nay (2010), thành Thăng Long được một ngàn năm chẳn. Vì vậy, năm nay, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam (CSVN) quyết định tổ chức lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long.

    Thông thường, kỷ niệm một người hay một sự kiện gì, là để tưởng nhớ công ơn người xưa hay hay những bài học từ chuyện xưa tích cũ, để từ đó rút ra những kinh nghiệm ứng dụng vào việc ứng xử ngày nay. Riêng thành Thăng Long, trong một ngàn năm qua, Thăng Long đã chia sẻ đời sống với dân tộc Việt, thăng trầm theo sự thăng trầm của lịch sử Việt, và đã để lại những kinh nghiệm thật là quý báu.

    Kinh nghiệm đầu tiên, dầu Thăng Long là kinh đô, được nhà cầm quyền Việt phòng thủ chặt chẽ, nhưng cũng đã bị ngoại bang tấn công và chiếm đóng nhiều lần. Đó là các nước TrungQuốc, Chiêm Thành và Pháp. Trong các nước nầy, nước tấn công và chiếm đóng Thăng Long nhiều lần nhất là Trung Quốc.

    Kinh nghiệm thứ hai là bất cứ nhà cầm quyền Trung Quốc nào cũng đều muốn tiến quân chiếm nước Việt, vừa để mở rộng biên giới, vừa để tìm đường xuống Đông Nam Á. Vì vậy, bất cứ nhà cầm quyền Trung Quốc nào cũng lợi dụng cơ hội nước Việt suy yếu, tranh chấp nội bộ, hay xảy ra thay đổi triều đại, Trung Quốc liền chụp lấy thời cơ, đem quân sang tấn công nước ta.

    Kinh nghiệm thứ ba là những cuộc xâm lăng bằng bạo lực vũ bảo, thì theo Đức Trần Hưng Đạo dễ chống đỡ hơn những cuộc xâm lăng theo kiểu tằm ăn dâu. Trước khi Đức Trần Hưng Đạo từ trần năm 1300, vua Trần Anh Tông (trị vì 1293-1314) đến thăm và hỏi ý kiến phải làm sao nếu quân Nguyên trở qua lần nữa? Trần Hưng Đạo đã dặn dò vua Anh Tông như sau: "Đại khái nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản [binh] chế trường [trận] là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn đúng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha với con thì mới dùng được. Vả lại khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy.”.(Toàn thư, bản dịch tập 2, sđd. tr. 79.)

    Kinh nghiệm thứ tư là những cuộc xâm lăng nhằm mục đích quân sự hay kinh tế không nguy hiểm bằng những cuộc xâm lăng nhằm tiêu diệt văn hóa Việt để đồng hóa dân tộc Việt. Những cuộc xâm lăng không tiếng súng bằng văn hóa ảnh hưỏng lâu năm trong đời sống dân tộc. Tiêu biểu cho loại nầy là cuộc xâm lăng của nhà Minh vào thế kỷ 15.

    Sau khi chiếm nước ta vào năm 1407, các tướng nhà Minh chẳng những vơ vét của cải, vàng ngọc, mà còn bắt giới trí thức cũng như nghệ nhân người Việt đem về Trung Quốc, tịch thu và chở về Trung Quốc hầu như toàn bộ sách vở nước Việt đã có từ thời Hồ Quý Ly trở về trước. Đó là sách của các tác giả sau đây: Lý Thái Tông (Hình thư), Trần Thái Tông (Hình luật, Quốc triều thông lễ, Kiến Trung thường lễ, Khóa hư tập, Ngự thi), Trần Thánh Tông (Di hậu lục, Cờ cừu lục, Thi tập), Trần Nhân Tông (Trung hưng thực lục, Thi tập), Trần Anh Tông (Thủy vân tùy bút), Trần Minh Tông (Thi tập), Trần Dụ Tông (Trần triều đại điển), Trần Nghệ Tông (Bảo hòa điện dư bút thi tập), Trần Hưng Đạo (Binh gia yếu lược, Vạn Kiếp bí truyền), Chu Văn Trinh tức Chu Văn An (Tứ thư thuyết ước, Tiều ẩn thi), Trần Quốc Toại (Sầm lâu tập), Trần Quang Khải (Lạc đạo tập), Trần Nguyên Đán (Băng Hồ ngọc hác tập), Nguyễn Trung Ngạn (Giới Hiên thi tập), Phạm Sư Mạnh (Giáp thạch tập), Trần Nguyên Đào (Cúc Đường di thảo),Hồ Tông Thốc tức Hồ Tông Vụ (Thảo nhàn hiệu tần, Việt nam thế chí, Việt sử cương mục), Lê Văn Hưu (Đại Việt sử ký), Nguyễn Phi Khanh (Nhị Khê thi tập), Hàn Thuyên (Phi sa tập), Lý Tế Xuyên (Việt điện u linh tập) ...

    Cuối cùng, Trung Quốc là nước lân bang, ở ngay sát phía bắc nước ta, trong khi Pháp là một nước ở xa. Người Trung Quốcngười Việt Nam có những điểm gần nhau về chủng tộc cũng như về văn hóa, đời sống. Vì vậy, những cuộc xâm lăng của Trung Quốc nguy hiểm hơn cuộc xâm lăng của Pháp Pháp có thể bóc lột khai thác dân tộc Việt một thời gian, nhưng người Pháp khác chủng tộc, khác văn hóa, khác môi trường sống, người Pháp đến rồi đi, không ở lại vĩnh viễn ở nước ta như người Trung Quốc.

    3. NGÀN NĂM GƯƠNG CŨ SOI KIM CỔ

    Huyện Thanh Quan, vào đầu thế kỷ 19, khi nhà Nguyễn dời đô từ Thăng Long vào Phú Xuân, đã ngậm ngùi thương nhớ cố đô trong bài “Thăng Long thành hoài cổ” như sau:
    Tạo hóa gây chi cuộc hí trường, / Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương. / Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo, / Nền cũ lâu đài bóng tịch dương. / Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,/ Nước còn cau mặt với tang thương./ Ngàn năm gương cũ soi kim cổ, / Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.”

    Nếu Thăng Long là tấm gương mà Bà Huyện Thanh Quan mô tả: Ngàn năm gương cũ soi kim cổ”,thì tấm gương đó đã ẩn chứa biết bao nhiêu anh hùng liệt nữ đã hy sinh vì dân tộc, nhưng đồng thời tấm gương đó cũng phản chiếu rất đầy đủ những kẻ phản quốc hại dân, nhất là trong thời hiện đại, kể từ khi xuất hiện đảng CSVN.

    Trước hết, theo sử sách, Lý Thái Tổ dời đô đến Thăng Long sau một cuộc đảo chánh và tuyên chiếu đời đô, nói rõ nguyên nhân vì sao nhà vua dời đô. Năm 1945, Hồ Chí Minh cũng dời đô từ Huế ra Hà Nội, cũng sau một cuộc đảo chánh. Hồ Chí Minh không có chiếu dời đô, mà có bản “Tuyên ngôn độc lập”. “Tuyên ngôn độc lập” nói rõ lý do đảo chánh, kết án thực dân Pháp.

    Những lời kết án nầy lại chính là lời báo trước chủ trương chính sách của CSVN cho đến ngày nay. Hãy trích vài câu trong bản ‘Tuyên ngôn: Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào….Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn, để làm cho nòi giống ta suy nhược…Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.”

    Chữ “chúng” trong bản “Tuyên ngôn” dùng để chỉngười Pháp. Tuy nhiên, ứng dụng những câu trên trong bản tuyên ngôn vào hoàn cảnh ngày nay, chủ từ trong những câu trên không ai khác hơn là CSVN: "không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào…. nhà tù nhiều hơn trường học, thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi, tắm các cuộc khởi nghĩa trong những bể máu, thi hành chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện [ma túy], rượu cồn [nhậu khắp nước], để làm cho nòi giống ta suy nhược… cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu, giữ độc quyền in giấy bạ [Ngân hàng nhà nước Việt Nam], đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý ..v.v.”

    Nếu có một người nào nghịch ngợm, viết lại các câu nầy trong bản Tuyên ngôn do chính Hồ Chí Minh viết và đọc, nhưng đừng ghi xuất xứ, rồi gởi cho nhà cầm quyền CSVN hiện nay, người đó sẽ không khỏi bị công an CS bắt giữ ngay, giống như bắt giữ những người mang 6 chữ vàng HS-TS-VN (Hoàng Sa-Trưòng Sa-ViệtNam).

    Trở lại chuyện Lý Thái Tổ dời đô. Nhà vua dời đô vào tháng 7 âm lịch. Nhà cầm quyền CSVN hiện nay ở Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long vào ngày 1-10-2010, tức ngày 24-8 năm Canh Dần (âm lịch). Trong lịch sử Việt Nam, ngày 1-10 không ghi dấu bất cứ một sự kiện quan trọng nào của đất nước. Trong lịch sử thế giới, ngày 1-10-1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tức 1-10 là ngày quốc khánh của Cộng sản Trung Quốc.

    Tổ chức lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long vào ngày quốc khánh Trung Quốc, nhà cầm quyền CSVN làm cho mọi người cảm giác là nhà cầm quyền CSVN muốn cùng góp vui với Trung Quốc nhân quốc khánh Trung Quốc, trong khi kinh nghiệm ngàn năm Thăng Long cho thấy Trung Quốc là nước lớn luôn luôn tìm cơ hội tấn công, chiếm đóng và thống trị Thăng Long, nghĩa là nhà cầm quyền Trung Quốckẻ thù số một của Thăng Long.

    Sở dĩ mọi người có cảm giác như vậy vì quan hệ mật thiết giữa đảng CSVNđảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) trong 80 năm qua, từ khi Hồ Chí Minh vâng lệnh Đệ tam Quốc tế Cộng Sản thành lập đảng CSVN tại Hồng Kông ngày 6-1-1930. Từ đó, đảng CSVN phát triển dưới ô dù của đảng CSTQ, nhất là từ năm 1950, khi Hồ Chí Minh cầu viện Liên Xô không được, phải quay qua nhờ Trung Quốc giúp đỡ.

    Tục ngữ Việt Nam có câu: “Bà con xa không bằng láng giềng gần”, chỉ đúng trong trường hợp người bạn láng giềng gần tử tế, lương thiện không hiếp đáp mình. Đàng nầy, người bạn láng giềng gần Trung Quốc qua kinh nghiệm một ngàn năm Thăng Long, là kẻ ỷ thế nước lớn, đã nhiều lần hiếp đáp và chiếm đóng nước ta. Vì vậy nhờ Trung Quốc đánh Pháp là một sai lầm lớn lao, nếu không muốn nói là một tội lỗi của Hồ Chí Minh đảng CSVN đối với dân tộc, vì một khi giúp Việt Nam đuổi Pháp, Trung Quốc sẽ điền thế chỗ của Pháp, thống trị Việt Nam. Sự thống trị của Trung Quốc còn tệ hại hơn của Pháp. Bằng chứng là dưới thời Pháp thuộc, nước Việt vẫn vẹn toàn lãnh thổ. Trong khi nhờ Trung Quốc đánh Pháp, gọi là giành độc lập, mà dần dần nước ta mất đất, mất biển vào tay Trung Quốc

    Sau đó, cầu viện Trung Quốc để đánh Mỹ lại càng sai lầm hơn nữa. Có hai sự kiện cụ thể dễ thấy chứng minh sự sai lầm của CSVN trong vụ chống Mỹ. Thứ nhất, chỉ cần nhìn qua các nước Á Châu gần nước Việt. Mỹ chiến thắng Nhật Bản, tiến quân đến Triều Tiên, nhưng Mỹ đâu có xâm lăng hai nước nầy, mà còn giúp hai nước nầy phục hưng sau thế chiến và cường thịnh như ngày nay. Thứ hai, chính nhà cầm quyền CSVN, vào đầu thế kỷ 21, trải thảm đỏ rước Mỹ vào để vực dậy nền kinh tế Việt Nam và làm đối trọng với Trung Quốc trong cuộc tranh chấp Biển Đông.

    Tuy hiện nay muốn nhờ Mỹ để lấy thế mặc cả với Trung Quốc, CSVN vẫn còn nằm dưới trướng của Trung Quốc, vẫn muốn đu giây giữa Trung Quốc Mỹ, và nhất là lo sợ đàn anh Trung Quốc trả đũa giống như đã từng trả đũa năm 1979 khi CSVN bỏ Trung Quốc chạy theo Liên Xô, nên bị Trung Quốc “dạy” cho một bài học. Phải chăng vì vậy mà đảng CSVN làm lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long vào ngày 1-10-2010 để gọi là mừng ngàn năm Thăng Long, nhưng thực chất là mừng quốc khánh Trung Quốc nhằm lấy lòng đàn anh Trung Quốc?

    Muốn chống lại Trung Quốc, chẳng những phải mượn thế của Mỹ, mà quan trọng hơn phải tạo nội lực dân tộc, phải thực hành như Đức Trần Hưng Đạo đã dạy: Vả lại khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy.” Khoan thư sức dân như thế nào, chắc chắn đảng CSVN dư biết, nhưng cũng chắc chắn không phải cách kỷ niệm ngàn năm Thăng Long đúng vào ngày quốc khánh Trung Quốc.

    Kỷ niệm ngàn năm Thăng Long là để tưởng nhớ đến sự kiện lập đô hết sức trọng đại của Lý Thái Tổ và tưởng nhớ đến quá trình sống còn của dân tộc với kinh đô Thăng Long, mà CSVN lại tổ chức vào ngày quốc khánh Trung Quốc, là một hành vi quốc nhục, xỉ vả vào lịch sử Thăng Long, lăng nhục lịch sử dân tộc. Tuyệt đại đa số người Việt Nam không chấp nhận thái độ kinh mạn nầy của CSVN. Lễ kỷ niệm chỉ diễn ra vài ngày phù du, nhưng vết nhơ quốc nhục do đảng CSVN gây ra sẽ được dân chúng truyền tụng thiên thu, theo như câu ca dao:: "Trăm năm bia đá thì mòn,/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”

    TRẦN GIA PHỤNG
    (Toronto, 1-9-2010)

+ Reply to Thread
Page 39 of 39 FirstFirst ... 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts