Thỏa thuận khí hậu toàn cầu: Mỹ và Nga, ai là người có lợi?

Một trong những sự kiện quan trọng nhất với tương lai toàn thế giới đã diễn ra trong năm 2015 lại là thỏa thuận khí hậu toàn cầu đã diễn ra tại Paris (COP21).

Thỏa thuận khí hậu toàn cầu: Mỹ và Nga, ai là người có lợi?

Shares

Ảnh minh hoạ từ Blog.mslgroup.com

Mất nhiều năm sau nghị định thư Kyoto, thế giới mới lại thông qua được một thỏa thuận trong đó hướng tới kiểm soát lượng khí thải và bảo vệ tương lai của trái đất. Dĩ nhiên đây là một sự kiện đem lại lợi ích cho tất cả, khi tương lai của các quốc gia đều phụ thuộc vào tương lai của trái đất.

Nhưng không phải là không có quốc gia nhận được nhiều lợi ích hơn từ thỏa thuận khí hậu toàn cầu Paris (COP21), vốn tưởng như là vì lợi ích chung này.

Một suy nghĩ khá phổ biến trên toàn cầu về những thỏa thuận khí hậu có nội dung chủ đạo là cắt giảm lượng khí thải này là, các nước phát triển thường phải chịu nhiều thiệt thòi hơn, vì số khí thải (tương đương với khả năng sản xuất của nền kinh tế) mà họ phải cắt giảm sẽ nhiều hơn. Điều này đúng trên thực tế, chính vì các nước có khả năng sản xuất lớn nhất mâu thuẫn với nhau về lượng khí thải phải cắt giảm, mà các thỏa thuận khí hậu kiểu này rất khó được thông qua.

Các quốc gia đang phát triển nhưng có sức sản xuất lớn như Trung Quốc hay Ấn Độ không hài lòng với mức cắt giảm mà các nước phát triển đề ra. Thực ra, ngoài lý do chủ yếu đó, một lý do khác cũng quan trọng không kém là những hiệp định khí hậu kiểu này luôn mang lại những lợi ích lớn cho một số quốc gia nhất định.

Ở thời điểm hiện tại, những quốc gia có trữ lượng khí đốt dồi dào được xem là hưởng lợi ích lớn nhất từ thỏa thuận khí hậu ở Paris (COP21). Điển hình là các nước xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới như Mỹ, Nga hay các nước OPEC.

Trong bối cảnh phải cắt giảm khí thải và các quốc gia dần phải chuyển sang các năng lượng sạch hơn, thì gas đang là sự lựa chọn hàng đầu. Trong một số lĩnh vực, đặc biệt là sản xuất điện năng, gas đang tỏ ra là một nhiên liệu khá hoàn hảo, có thể thay thế cho các năng lượng khác bị coi là ô nhiễm hơn trong quá trình sản xuất điện, chẳng hạn như than đá.

Cho đến giai đoạn đầu những năm 2000, than đá vẫn đóng một vai trò lớn trong lĩnh vực sản xuất điện năng. Ở Mỹ, 52% lượng điện sản xuất ở nước này vào năm 2000 là đến từ than đá, còn ở liên minh châu Âu EU là 32%, trong khi 80% lượng điện được sản xuất ở Trung Quốc cho đến năm 2011 là từ than đá.

So với than đá, gas được xem là ít gây ô nhiễm hơn cho sản xuất điện. Mỹ là quốc gia sớm nhất nhận ra xu hướng này và đã đi đầu trong việc sử dụng gas thay than đá để sản xuất điện. Từ mức 52% năm 2000, đến năm 2014 lượng điện được sản xuất từ than đá ở Mỹ chỉ còn 38% và thị phần của gas được sử dụng để sản xuất điện ở Mỹ đã tăng gấp đôi.

Tuy nhiên, lượng than khai thác của Mỹ vẫn không giảm, mà còn tăng đáng kể để cung cấp cho nhu cầu xuất khẩu. Điển hình cho nhu cầu nhập khẩu than là Trung Quốc, nhu cầu tăng trưởng biến nước này thành kẻ ngốn than lớn nhất thế giới, chủ yếu là nhu cầu dùng than để luyện thép và sản xuất điện. Từ năm 2000, Trung Quốc đã tiêu thụ 1,5 tỉ tấn than, chiếm 28% tổng lượng tiêu thụ than toàn cầu, đến năm 2011, tăng lên 47%.

Điều đáng ngạc nhiên là ngoài Trung Quốc, một số quốc gia châu Âu cũng đang tăng cường sử dụng than trở lại. Điển hình là Đức, nền kinh tế lớn nhất châu Âu và là nước đứng đầu về việc sử dụng năng lượng từ gió và mặt trời. Mức tiêu thụ than của Đức từ năm 2000 đến nay đã tăng gấp 4 lần, chủ yếu là cho việc sản xuất điện. Sau thảm họa hạt nhân Fukusima do động đất sóng thần ở Nhật Bản, chính phủ Đức đã đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân của nước này một cách đột ngột, chưa có tính toán thay thế, người Đức đành quay trở lại nhiên liệu truyền thống là than, dù nó ô nhiễm và từ lâu đã nằm trong danh sách bị hạn chế sử dụng ở EU.

Ở thời điểm hiện tại, 45% lượng điện được sản xuất ở Đức là từ than đá, ở Anh cũng là trên 20%. Xu hướng này thậm chí còn đang lan ra khắp châu Âu. Vào cuối năm ngoái, thậm chí có nhà lãnh đạo EU đã tuyên bố kỷ nguyên than đá đang quay trở lại ở châu Âu kể từ cuối thế kỷ 19. Các nhà máy nhiệt điện sử dụng than đá đang bắt đầu được xây dựng lại ở một số nước châu Âu, như Pháp hoặc Ý. Một nhà máy nhiệt điện lớn đã bắt đầu được xây dựng vào giữa năm 2010 với công suất dự kiến là 17.580 MW, nhưng sau đó đã tăng lên thêm 14.469 MW nữa.

Chính vì điều này nên khi thỏa thuận khí hậu được thông qua ở Paris, đã đem lại lợi ích lớn cho những nước có trữ lượng khí đốt lớn, điển hình là Mỹ, Nga và một số nước OPEC.
Theo thỏa thuận, những nguyên liệu có mức gây ô nhiễm cao như than đá sẽ bị hạn chế sử dụng, và các nước sẽ phải tìm một loại nhiên liệu khác sạch hơn. Vào cuối tuần trước, các mỏ than sâu nhất ở Anh và một trong ba mỏ than lớn nhất ở Đức đã bị đóng cửa hoàn toàn như một phần của thỏa thuận.

Và giờ đây gần như các quốc gia ở châu Âu cũng như trên toàn cầu phải hướng đến một nhiên liệu khác trong việc sản xuất điện mà sự lựa chọn gần như chắc chắn sẽ là gas. Các nguồn năng lượng khác như gió hay mặt trời ở thời điểm hiện tại vẫn chưa đủ khả năng sản xuất lượng điện cần thiết, mà tình trạng ở nước sản xuất hai loại năng lượng này lớn nhất thế giới – Đức – là ví dụ.

Lý do chủ yếu khiến các nước châu Âu như Anh hay Đức không dùng gas mà dùng than đá để sản xuất điện dù ô nhiễm hơn là do giá thành của than rẻ hơn gas trong sản xuất điện khá nhiều. Không giống như ở Mỹ hay Nga, giá gas ở châu Âu khá đắt dù giá thành đã giảm gần đây do cạnh tranh. Nhưng giờ đây, các nước này chẳng còn có thể tiếp tục sử dụng than quy mô lớn như trước, họ sẽ phải tính đến khả năng nhập khẩu gas từ nước ngoài.

Mỹ đang là ứng cử viên khá tiềm năng cho việc cung cấp gas cho châu Âu, do trữ lượng gas lớn thu được từ “cuộc cách mạng” khai thác dầu đá phiến, và nhất là giá gas ở Mỹ đang rẻ hơn so với một nhà cung cấp khác cho EU là Nga khoảng 5 lần. Dù Nga có lợi thế về vận chuyển do khoảng cách địa lý và các đường ống dẫn nhưng việc giá gas Mỹ rẻ hơn gấp 5 lần sẽ bù đắp được bất lợi về vận chuyển.

Tuy nhiên, Nga cũng không phải chịu thiệt thòi. Nước này gần như nguồn cung lớn nhất cho châu Á, mà hai khách hàng lớn nhất là Trung Quốc và Ấn Độ. Hai nền kinh tế lớn của châu Á này cũng sẽ phải cắt giảm một lượng khí thải lớn do thỏa thuận khí hậu Paris quy định, và sẽ phải chuyển từ than đá sang gas trong việc sản xuất điện năng.

Nhất là Trung Quốc, khi hơn 80% lượng điện năng của nước này vẫn sản xuất từ than đá. Dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ có thể giảm đi trong vài năm tới, nhưng nhu cầu điện năng của hai quốc gia này vẫn là một con số khổng lồ, có thể vượt qua cả châu Âu. Và đó rõ ràng là một món hời lớn cho Nga, khi mà các đường ống dẫn khí đốt sang châu Á của Nga đã bắt đầu được xây dựng từ gần 2 năm trước.

 (the Bloomberg)

Đất Việt là nơi tự do bày tỏ ý kiến, không có chế độ kiểm duyệt. Rất mong nhận được ý kiến của độc giả.