Quần đảo Kuril: Cuộc tranh chấp lâu dài và quyết liệt

0
9

Quần đảo Kuril là vấn đề nan giải cho lãnh đạo hai nước Nga – Nhật. Trong ảnh: Thủ tướng Nhật Bản Abe (trái) và tổng thống Nga Putin

Ngược dòng lịch sử

Cứ liệu lịch sử đầu tiên về việc xác định ranh giới địa lý chính thức giữa Nga và Nhật là Hiệp ước Shimoda, ký ngày 7/2/1855. Theo điều khoản thứ hai của hiệp ước này, ranh giới được thiết lập giữa đảo Urup và đảo Iturup. Như vậy có nghĩa là, cả bốn hòn đảo đã nêu đều thuộc về Nhật Bản. Tuy nhiên, trải qua nhiều biến cố lịch sử, quần đảo này về sau trở thành một phần lãnh thổ của Liên Xô (và nay là của Nga). Cần biết rằng quần đảo Kuril không chỉ có 4 hòn đảo nói trên mà còn bao gồm nhiều đảo khác.

Từ năm 1981, ngày 7/2 hàng năm được người dân Nhật gọi là “Ngày chủ quyền lãnh thổ phương Bắc”. Người Nhật dựa trên cơ sở Hiệp ước Shimoda để đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Kuril, nhưng họ quên mất một chi tiết lịch sử khá quan trọng. Số là vào năm 1904, quân đội Nhật Bản bất ngờ tấn công hạm đội Nga tại Port Arthur, gây ra cuộc chiến tranh Nga – Nhật. Hành động đó vi phạm nghiêm trọng Hiệp ước Shimoda, vốn được coi là một hiệp ước về hòa bình, tình hữu nghị và quan hệ láng giềng thân thiện giữa hai quốc gia.

Còn có một tình tiết quan trọng nữa: Hiệp ước Shimoda không xác định chủ quyền của đảo Sakhalin, người Nga và người Nhật đều có quyền sinh sống trên đảo này. Nhưng sự khác biệt văn hóa và những xích mích nhỏ trong tranh chấp lãnh địa cư trú đã dẫn đến mâu thuẫn gay gắt và thế là vào năm 1875, hai bên phải ngồi lại đàm phán rồi ký kết Hiệp ước Saint Peterburg, theo đó, toàn bộ đảo Sakhalin sẽ thuộc về Đại Nga, đổi lại, toàn bộ quần đảo Kuril sẽ do Nhật Bản quản lý. Về sau, như một hệ lụy của cuộc chiến tranh Nga Nhật, vào năm 1905, hai nước ký hiệp ước Portsmouth, xác định chủ quyền của Nhật Bản trên phần phía Nam đảo Sakhalin, tính từ vĩ tuyến 50 trở xuống (chiếm khoảng 40% diện tích của hòn đảo này). Năm 1925, Liên Xô và Nhật Bản lại ký hiệp ước Bắc Kinh, xác nhận rằng Chính quyền Xô viết chấp nhận các điều khoản của Hiệp ước Portsmouth. Như vậy, vấn đề Kuril coi như không cần bàn cãi, vì các đảo của Kuril nằm cách xa bên dưới vĩ tuyến 50, nghĩa là thuộc về Nhật Bản. Nhưng…

Khoảng cuối thập niên 1930 đầu 1940 đã xảy ra nhiều cuộc xung đột vũ trang Xô – Nhật khiến cho việc tuân thủ Hiệp ước Portsmouth không còn chặt chẽ. Đầu năm 1945, khi các nước thuộc phe Trục phát xít bị đẩy đến miệng hố thất bại trong Thế chiến II, các nước thuộc phe Đồng Minh cùng với Liên Xô tổ chức Hội nghị Yalta bàn về việc phân chia thế giới sau chiến tranh. Hội nghị này ra điều kiện: Hồng quân phải tham gia cuộc chiến chống quân Nhật và sau khi chiến thắng, phần đất phía Nam của đảo Sakhalin và toàn bộ quần đảo Kuril sẽ thuộc về Liên Xô.

Sau chiến tranh, giới lãnh đạo Nhật Bản rất kiềng nể “ông láng giềng khổng lồ” Liên Xô, hơn nữa, để có được nguồn dầu mỏ ổn định, giá rẻ từ Siberia, phía Nhật Bản đành ngậm đắng nuốt cay nhìn vùng đất Nam Sakhalin và quần đảo Kuril một lần nữa rơi vào tay người Nga. Thực ra, không phải người Nga “bỗng dưng” mà có được Nam Sakhalin và Kuril. Trong những ngày cuối của Thế chiến II, Hồng quân Liên Xô đã tung một lực lượng lớn quân tinh nhuệ, nhảy dù xuống Nam Sakhalin và Kuril, chiến đấu một mất một còn với các cảm tử quân Nhật Bản. Như vậy, để có được những vùng đất này, phía Liên Xô đã phải trả giá bằng xương máu. Sau khi chiếm được Nam Sakhalin và quần đảo Kuril, để “trừ hậu họa”, phía Liên Xô đã di dời toàn bộ những người dân Nhật Bản sinh sống nơi đây vào sâu trong đất liền, “tái định cư” họ ở những vùng đất Trung Á xa xôi hẻo lánh thuộc Uzbekistsn, Kazakhstan…

Hội nghị San Francisco

Hiệp ước Hòa bình giữa các quốc gia thắng trận với Nhật Bản được ký kết ngày 8/9/1951 tại San Francisco, theo đó, Nhật Bản tự nguyện từ bỏ toàn bộ quyền lợi trên quần đảo Kuril. Tuy nhiên, có một điều rất lạ là phái đoàn Liên Xô lại không ký vào hiệp ước này. Công luận Liên Xô chỉ trích mạnh mẽ các nhà ngoại giao Xô viết, cho rằng đây là một lỗi lầm không thể tha thứ. Nhưng các thành viên phái đoàn Liên Xô cũng có những lập luận nặng ký.

Trước hết, trong văn bản hiệp ước không nêu rõ tọa độ của quần đảo Kuril, cũng không liệt kê toàn bộ những đảo trực thuộc. Ngoài ra, phái đoàn Nhật cũng kiến nghị rằng 4 đảo Iturup, Kunashir, Shikotan và Khabomai không thuộc quần đảo Kuril.

Thứ hai, tuy Nhật Bản đã đồng ý từ bỏ chủ quyền trên quần đảo Kuril nhưng trong văn bản hiệp ước lại không nêu rõ quần đảo này sẽ thuộc về ai, nghĩa là không khẳng định chủ quyền của Liên Xô đối với Kuril.

Vì thế, phái đoàn Liên Xô đã không ký vào hiệp ước. Và mọi rắc rối bắt đầu từ đó.

Năm 1956, Liên Xô và Nhật Bản ra tuyên bố chung về việc bình thường hóa quan hệ Xô-Nhật và Liên Xô sẵn sàng chuyển giao Kuril cho Nhật Bản nhưng chỉ sau khi hai nước ký kết một hiệp ước hòa bình. Trong khi hai bên đang đàm phán về các điều khoản của hiệp ước hòa bình thì vào năm 1960, Nhật Bản ký hiệp ước an ninh với Mỹ khiến Liên Xô giận dữ hủy bỏ đàm phán, và thế là Hiệp ước hòa bình Xô-Nhật cho đến nay vẫn không được ký kết.

Sau khi Liên Xô tiến hành can thiệp vũ trang vào Afghanistan và bị cô lập trên trường quốc tế, Nhật Bản càng đẩy mạnh việc đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Kuril. Từ 1981, vào ngày 7/2 hàng năm, nước Nhật rầm rộ tổ chức “Ngày đòi lại lãnh thổ phương Bắc” nhằm gửi đến Chính phủ Liên Xô (và Nga ngày nay) thông điệp về những yêu sách chủ quyền.

quan dao kuril cuoc tranh chap lau dai va quyet liet
Lính Biên phòng Nga ở Kuril hồi thập niên 1950

“Nguyên tắc” hay “thực dụng”?

Đối với người Nhật, quần đảo Kuril không như những hòn đảo nhỏ lẻ mà họ đang tranh chấp với một số quốc gia láng giềng khác. Cần biết rằng tổng diện tích của quần đảo này là 5.100 km2, một con số khá lớn (diện tích Nhật Bản – 379.954km2). So với diện tích nước Nga (17.075.200km2) thì con số này quá nhỏ nhoi, nhưng đối với người Nga, quần đảo Kuril lại đóng vai trò vị trí chiến lược, vì vào mùa đông, vùng biển gần bờ Đông của nước Nga (biển Okhotsk) bị đóng băng suốt mấy tháng, trong khi đó, nước biển quanh Kuril không bao giờ đóng băng nên tàu ngầm Nga từ các căn cứ trên quần đảo này có thể dễ dàng ra vào Thái Bình Dương bất cứ thời điểm nào trong năm.

Trữ lượng khoáng sản trên các đảo Kuril và dưới đáy biển xung quanh chưa được điều tra đầy đủ, nhưng những con số đã xác định được đã rất gây ấn tượng. Đặc biệt, trên đảo Iturup có mỏ Rheni lớn nhất thế giới, được phát hiện vào năm 1992. Rheni là kim loại quý hiếm, được dùng để sản xuất các chất xúc tác và các siêu hợp kim sử dụng cho hàng không vũ trụ và kỹ thuật hàng không. Chỉ một ngọn núi lửa Kudryavyi mỗi năm cũng đẩy lên từ lòng đất 20 tấn rheni, tương đương một nửa khối lượng mà thế giới sản xuất được từ trước đến nay. Điều đặc biệt là Rheni do núi lửa Kudruavyi ban tặng hoàn toàn thuần chất chứ không phải nằm lẫn trong quặng như ở các mỏ khác trên thế giới. Trên đất Nga đại lục không có bất cứ mỏ Rheni nào. Từ 10 năm nay, người Nga đã bắt tay chuẩn bị cho việc khai thác Rheni ở đảo Iturup trên quy mô công nghiệp.

Các khoáng sản khác ở quần đảo Kuril cũng rất dồi dào, chẳng hạn, Hydrocarbon (CH4 – tiền chất của dầu mỏ) có hơn 2 tỷ tấn, vàng và bạc – 2.000 tấn, titan – 40 triệu tấn, sắt – 270 triệu tấn… Nguồn hải sản ở vùng biển Kuril vô cùng phong phú, lượng hải sản mà người Nga đánh bắt được nơi đây hàng năm đạt trị giá khoảng 4 tỷ USD (vì thế các nghị sĩ đại diện ngư dân Nhật luôn gây sức ép yêu cầu Chính phủ Nhật Bản đòi lại bằng được quần đảo Kuril).

Việc khai thác tiềm lực của quần đảo Kuril đòi hỏi nguồn đầu tư rất lớn. Từ năm 2007 – 2015, Chính phủ Nga đã chi cho dự án phát triển kinh tế Kuril hơn 20 tỷ rúp và từ nay đến năm 2025 sẽ chi thêm 68 tỷ nữa. Quyết định này cũng là một lời “nhắn bảo” người Nhật nên từ bỏ ý định đòi lại cái mà họ gọi là “lãnh thổ phương Bắc”. Ngoài ra, Nga còn ra sức kêu gọi các nguồn đầu tư từ nước ngoài vào các dự án kinh tế ở Kuril, nhưng Nhật Bản đã phản ứng quyết liệt trước động thái này.

Rõ ràng, chuyện tranh chấp quần đảo Kuril về căn bản chỉ vì quyền lợi (kinh tế và quốc phòng) của mỗi bên, nhưng lại được che giấu dưới chiêu bài “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ” có tính nguyên tắc. Và bên nào cũng đưa ra những “lập luận xác đáng” của mình.

Cánh cửa đàm phán: đóng hay mở?

Giới chính khách và các nhà ngoại giao Nhật Bản nhiều lần mừng hụt khi Matxcơva tỏ ra có dấu hiệu nhượng bộ trong vấn đề quần đảo Kuril. Cánh cửa hé mở lần đầu trong chuyến thăm Nhật Bản của Mikhail Gorbachev năm 1991 – khi đó Tổng thống Liên Xô đã ngỏ lời nối lại đàm phán về Kuril. Vào tháng 11 năm 2008, tại Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) tổ chức tại Lima, thủ đô Peru, trong buổi hội đàm riêng với Thủ tướng Nhật Bản Taro Aso, Tổng thống Nga lúc đó là Dmitry Medvedev cũng khẳng định rằng một hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác là rất cần thiết cho hai quốc gia. Nhưng để đạt được hiệp ước đó, ông Medvedev nhấn mạnh, cần có cách tiếp cận vấn đề một cách sáng tạo, và nhất thiết không nên để cho các thế hệ mai sau phải gánh vác các hệ lụy. Nhưng trong khi người Nga đang tích cực chuẩn bị các phương án “tiếp cận sáng tạo” thì đùng một cái, đúng nửa năm sau Hội nghị Lima, Thủ tướng Nhật Taro Aso đăng đàn tuyên bố rằng quần đảo Kuril bị nước Nga chiếm đóng bất hợp pháp suốt mấy thập niên nay! Tuyên bố này khiến Nga phản ứng mạnh mẽ và người dân Nhật lại một lần nữa thất vọng vì những lời nói thiếu kiềm chế của ông Aso đã như nhát dao cắt đứt mọi hi vọng đàm phán. Tháng 11/2010, sau chuyến thăm chính thức Việt Nam, Tổng thống Nga Medvedev bay thẳng sang quần đảo Kuril để thị sát tình hình phát triển kinh tế nơi đây và đó cũng là một động thái ngầm đáp trả tuyên bố của Thủ tướng Taro Aso. Và thế là cho đến nay, mọi chuyện hầu như vẫn giẫm chân tại chỗ.

comments