Kiểm soát tin tức: Vai trò của truyền thông nhà nước

Kiểm soát tin tức: Vai trò của truyền thông nhà nước

Mặc dù có nhiều phương tiện truyền thông mới đang dần vươn lên, và môi trường truyền thông nhìn chung đã trở nên đa dạng và cạnh tranh hơn rất nhiều so với trước, các chế độ chuyên chế đang tìm ra những cách thức đáng ngạc nhiên (và hiệu quả đến mức đáng báo động) để sử dụng truyền thông nhằm củng cố quyền lực của mình. Các cơ quan truyền thông do nhà nước kiểm soát một cách chính thức hoặc không chính thức đã trở nên rất cần thiết đối với sự bền vững của các chính quyền phi dân chủ trên khắp thế giới. Những thông điệp mà các phương tiện truyền thông này đưa ra – và sự thờ ơ của người dân mà chúng khuyến khích – giúp giữ cho một số nhân vật quan trọng thuộc giới chóp bu không đào ngũ khỏi chế độ, đồng thời ngăn chặn sự trỗi dậy của những trung tâm quyền lực thay thế khác trong lòng xã hội.

Các cơ quan truyền thông đang được nói đến có thể do nhà nước sở hữu và điều hành, hoặc có thể là các cơ quan tư nhân trên danh nghĩa nhưng thực tế vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền. Hầu hết các chế độ chuyên chế – kể cả các chế độ ở Trung Quốc và Nga – đều áp dụng mô hình này một cách khéo léo – dùng cả các phương tiện truyền thông nhà nước lẫn các cơ quan truyền thông tư nhân để thực hiện những mục đích của mình.

Việc nhắc đến Bắc Kinh và Matxcơva có thể khiến người ta hiểu rằng truyền thông do nhà nước kiểm soát chỉ tồn tại ở các nước cộng sản hay hậu cộng sản, nhưng không phải như vậy. Azerbaijan, Belarus, Campuchia và Việt Nam có các phương tiện truyền thông bị nhà nước chi phối, nhưng Ethiopia, Iran, Mozambique, Rwanda và Zimbabwe cũng vậy (ngoài ra Venezuela cũng đang nhanh chóng đi theo xu hướng này). Trong tất cả các quốc gia này, dù là cộng sản, hậu cộng sản hay không phải là cộng sản, những hệ thống truyền thông được thiết lập ra để hạn chế thông tin và tin tức tới đại đa số người theo dõi và định hình nên tiếng nói chính trị chính thống. Hơn thế nữa, một số chính quyền được bầu lên một cách dân chủ nhưng có khuynh hướng chuyên chế, giống như các chính quyền ở Ecuador, Nicaragua, Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraine, cũng sử dụng những kỹ thuật tương tự.

Để thực thi những ý định của mình, những nhà chuyên chế kiểu cũ dựa vào những cơ chế cưỡng ép trên quy mô lớn cùng với các tổ chức đảng vững chắc, do trung ương kiểm soát và thấm đẫm ý thức hệ. Cả Nga và Trung Quốc đều có những bộ máy hành chính an ninh quốc gia quy mô lớn, nhưng không nước nào còn duy trì chính đảng theo kiểu cũ. Đảng Cộng sản Liên Xô (CPSU) đã không còn nữa, trong khi Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) dù vẫn nắm quyền nhưng đã cắt gọt bớt hệ tư tưởng của mình để “phù hợp với những quyết định chính sách được đưa ra trên cơ sở phi tư tưởng”.1 Cưỡng ép là yếu tố quan trọng trong cả 2 trường hợp, nhưng nền chuyên chế ở cả 2 nước không thể đứng vững nếu chỉ dựa vào vũ lực – và các nhà cầm quyền biết rõ điều đó.

Đây là lúc cần dùng đến các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát. Khi không có hệ tư tưởng dẫn dắt nào như chủ nghĩa cộng sản để làm chỗ dựa, các chế độ sử dụng truyền thông để lấp đầy khoảng trống, đưa ra một hỗn hợp gồm chủ nghĩa tiêu dùng, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa bài Mỹ và các dòng tư tưởng khác để giữ con thuyền chế độ “nổi lên trên mặt nước” thông qua sự ủng hộ từ quần chúng.2

Tuy nhiên, truyền thông do nhà nước kiểm soát không tồn tại chỉ để ca tụng giới cầm quyền. Một chức năng thiết yếu bên cạnh đó là nhằm công kích và hạ thấp uy tín những thế lực muốn thay thế tình trạng chuyên chế hiện hành trước khi những thế lực đó lôi kéo được đông đảo người dân. Theo cách này, truyền thông do nhà nước điều hành là một công cụ để gạt bỏ bất kỳ phe đối lập chính trị hay phong trào dân sự tiềm tàng nào. Khi không thể tiếp cận hiệu quả các phương tiện truyền thông, các phe phái đối lập sẽ không thể tiếp cận được tới những người ủng hộ tiềm năng hay có được tiếng nói đáng kể trong tranh luận công khai.

Mặc dù các nền chuyên chế đương thời vẫn coi khả năng trấn áp bất đồng chính kiến bằng vũ lực là thiết yếu và sẽ không từ bỏ cách làm này, Trung Quốc, Nga và các chế độ khác ngày nay thường sử dụng biện pháp mạnh một cách có chọn lọc hơn.3 Lý do của việc này bắt nguồn từ thực tiễn: Nguyện vọng hiện đại hóa nền kinh tế và đạt được sự phồn vinh không thể tồn tại cùng sự đàn áp thô bạo trên quy mô lớn và sự hạn chế lưu lượng thông tin mà điều đó yêu cầu.

Ngoại trừ các trường hợp như Cuba, Bắc Triều Tiên và Turkmenistan, các chế độ chuyên chế ngày nay không hướng đến việc thống trị hoàn toàn tất cả các phương tiện thông tin đại chúng. Thay vào đó, thứ họ muốn có thể được gọi là “kiểm soát truyền thông hiệu quả” – vừa đủ cho họ thể hiện được quyền lực cũng như củng cố tuyên bố về tính chính danh của họ, trong khi làm suy yếu những đối thủ tiềm năng. Sự chi phối của nhà nước như vậy – dù là thông qua những cơ quan truyền thông được nhà nước công khai điều hành hay chỉ chịu ảnh hưởng từ chính quyền một cách mềm dẻo – cho phép các chế độ làm nổi trội những tiếng nói ủng hộ chính quyền trong khi sử dụng quyền cắt bỏ trong biên tập để hạn chế việc chỉ trích có hệ thống các chính sách và hành động của chính phủ.

Xét về khía cạnh này thì Trung Quốc là nước đi đầu. Các tuyên truyền viên của Bắc Kinh là những người biết tiếp thu một cách khéo léo, học theo những phương pháp quan hệ công chúng thường được vận dụng trong chính trị phương Tây và chỉnh sửa chúng sao cho thích hợp với các điều kiện ở Trung Quốc. Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) tiếp cận một lượng khán giả rất đông đảo, lên tới hàng trăm triệu người, với tư cách là phương tiện kiểm soát của nhà nước, định hướng cho ý thức của dư luận về tin tức và sự kiện, và quản lý các thông điệp trong văn hóa giải trí đại chúng.4

CCTV đại diện cho một thực thể truyền thông của chủ nghĩa chuyên chế vốn đã đạt được một mức độ thành công thương mại nhất định, kết hợp với sự trấn áp có hệ thống một cách khéo léo. Đó là một tập đoàn truyền thông (giờ đã có các chân rết hoạt động cả trong và ngoài lãnh thổ Trung Quốc) có lợi nhuận về mặt tài chính, tự chủ trong cách vận hành, và đáng tin tưởng về mặt ý thức hệ. Sự nổi bật của CCTV phần nhiều là nhờ những gì các nhà điều tiết trong chính phủ Trung Quốc đã làm để hạn chế các đối thủ tiềm năng. Những khách hàng mua quảng cáo của CCTV thường là các tập đoàn nhà nước hoặc các công ty tư nhân muốn tạo ấn tượng với các quan chức nhà nước. Kết quản có được là một môi trường truyền thông bán thương mại mà trong đó nhà nước giữ vai trò chi phối về biên tập nội dung.

Sự nổi trội mà chúng ta thấy ở CCTV không phải do ngẫu nhiên: Truyền thông do nhà nước kiểm soát có thể có nhiều hình thức, nhưng truyền hình là số một. Giống như tên cướp nhà băng huyền thoại Willie Sutton với câu nói trứ danh rằng hắn cướp ngân hàng vì “tiền đều nằm ở đấy”, các chế độ chuyên chế tập trung vào truyền hình vì đó là nơi mọi con mắt đều hướng vào. Trong phần lớn các xã hội, truyền hình là nguồn chính để mọi người tìm kiếm tin tức và thông tin. Những thông tin được đưa trên truyền hình – cả nội dung và cách thức đưa tin – ảnh hưởng và định hình nội dung của dòng quan điểm chính trị chính thống. Hơn nữa, những nội dung có trên truyền hình sẽ xác định nhận thức của người dân về việc chế độ sở hữu nhiều quyền lực đến mức nào.

Truyền hình vẫn không có đối thủ cạnh tranh thực sự. Việc tiếp cận và sử dụng Internet đang phát triển, đôi khi rất nhanh chóng, và nhiều công nghệ mới đang giúp cho những người dân bình thường có thể tiếp cận được với nhiều loại hình thông tin hơn và liên lạc với nhau một cách nhanh và rẻ. Các phương tiện truyền thông xã hội có thể giúp định hình cách nhìn nhận, đặc biệt là về những vấn đề gây bất bình rộng rãi, và đang thay đổi các cơ chế hành động tập thể.5 Nhưng các phương tiện truyền thông mới đang ở thời điểm có thể gọi là “giai đoạn trỗi dậy” trong sự phát triển của mình và còn lâu mới có khả năng thách thức vai trò chủ đạo của truyền hình trong các xã hội chuyên chế.

Một trong số nhiều vấn đề thế giới mạng gặp phải là tình trạng quá phân tán. Theo bản chất, các chế độ chuyên chế tập trung chặt chẽ vào việc giữ chặt quyền lực và do đó sử dụng truyền thông nhà nước một cách có hệ thống vì mục đích này. Truyền hình do nhà nước kiểm soát mang thông điệp của chế độ tới khán giả mà không gặp phải trở ngại gì. Ngược lại, mạng Internet là một hỗn hợp lẫn lộn với nhiều tiếng nói trái ngược nhau – không phải là nền tảng tốt nhất để thúc đẩy một lực lượng đối lập thống nhất và chặt chẽ nhằm chống lại phe đang cầm quyền.

Nhà nước kiểm soát truyền thông như thế nào

Những phương pháp nào đã giúp cho các hệ thống truyền thông nhà nước – trong đó không chỉ gồm truyền hình mà còn các báo, đài và phương tiện truyền thông mới, tất cả đều được chống lưng bởi hệ thống cảnh sát và tòa án bị chính quyền chi phối – có thể tồn tại lâu dài trong kỷ nguyên hiện tại với những tiến bộ nhanh chóng về công nghệ và truyền thông, cụ thể là trên các lĩnh vực mạng Internet và truyền thông xã hội? Để đạt được quyền chi phối hiệu quả, các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát tại các chế độ chuyên chế gây ảnh hưởng lên bốn đối tượng khán giả riêng biệt. Bốn đối tượng đó, theo trình tự mức độ quan trọng đối với chế độ, là 1) giới chóp bu trong chính liên minh của chế độ; 2) đại bộ phận quần chúng nói chung; 3) người sử dụng Internet thông thường của đất nước; và 4) các nhóm chính trị đối lập và các tổ chức xã hội độc lập.

Giới chóp bu trong liên minh của chế độ

Các chế độ chuyên chế luôn luôn phải lo lắng về chính giới chóp bu trong nội bộ của mình, những người có lợi ích lớn trong việc liệu chế độ có triển vọng tốt hay xấu, và luôn muốn có thể “đứng về phía bên thắng thế” bằng cách tỏ ra “linh động” thay đổi lòng trung thành của họ. Các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát phải có nhiệm vụ trấn an những trụ cột của chế độ này rằng nhà cầm quyền (hay nhóm cầm quyền) hiện tại vẫn sẽ đứng vững, từ đó tiếp tục gắn chặt và trung thành với chế độ sẽ là “việc làm khôn ngoan”.

Sự thống trị rõ ràng lên các phương tiện truyền thông là tín hiệu cho các thành viên chủ chốt của liên minh cầm quyền biết nếu phản bội lại chế độ thì sẽ bị trừng phạt bằng nhiều biện pháp, trong đó bao gồm các chiến dịch bôi nhọ bằng truyền thông. Trong bối cảnh này, những gì các phương tiện truyền thông nói ra ở một thời điểm nào đó cũng không quan trọng bằng việc nhóm cầm quyền có khả năng cho thấy rằng họ có thể áp đặt bất kỳ thông điệp gì họ muốn. Như Guillermo O’Donnell và Philippe Schmitter đã chỉ ra, các nhà chuyên chế biết rõ rằng các chế độ phi tự do có thể sẽ bắt đầu rạn nứt nếu những nhân vật ôn hòa trong chế độ tìm ra và liên lạc được với những nhân vật ôn hòa trong các nhóm đối lập mà họ có thể thương lượng được.6 Giữ cho một số quan chức thuộc giới chóp bu không tự tách ra khỏi chế độ là một mục tiêu sống còn và do đó cũng là một nhiệm vụ thiết yếu của truyền thông do chế độ kiểm soát.

Tại Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc sử dụng sự chi phối truyền thông của mình để gửi tín hiệu đến một số khán giả thuộc giới chóp bu. Trong số này có cả chính các thành viên trong ban lãnh đạo Đảng, cũng như các quan chức nhà nước và cộng đồng doanh nhân Trung Quốc lớn mạnh, đang phát triển và có liên kết chặt chẽ không thể tách rời với Đảng. Anne-Marie Brady đã quan sát thấy vai trò tối quan trọng của truyền thông do nhà nước kiểm soát ở Trung Quốc với tư cách là “bộ phận chính quyền thứ tư” (thay vì chỉ là “quyền lực thứ tư”) và vị trí thuận lợi của truyền thông trong việc truyền tải đến giới chóp bu những thông điệp ủng hộ hệ thống đảng-nhà nước.7

Tổng thống Nga Vladimir Putin sử dụng truyền thông để phô trương quyền lực trước một số thành phần chủ chốt. Ông ta đặc biệt muốn giữ cho nhóm siloviki (những người quyền lực) gồm những quan chức trong quân đội, các lực lượng cảnh sát và bộ máy an ninh quốc gia, nằm trong tầm kiểm soát của mình. Những đối tượng khán giả khác được các hành động phô trương quyền lực đặc trưng của Putin hướng đến (trong đó bao gồm cả việc đến dự một trận đấm box tay không cùng với ngôi sao phim hành động người Bỉ Jean-Claude Van Damme và những hình ảnh được công bố rộng rãi trong đó Putin cởi trần, cưỡi ngựa và mang một khẩu súng trường săn chó sói) còn có các quan chức nhà nước và cộng đồng doanh nhân, đặc biệt là các công ty năng lượng và công ty khai thác tài nguyên thiên nhiên khác có vai trò to lớn trong nền kinh tế của Nga. Sự xuất hiện tràn lan của Putin trên các phương tiện truyền thông nhắc nhở các nhóm đối tượng này rằng họ đang hưởng lợi từ trạng thái lãnh đạo tối cao của Putin và nên lo sợ nếu làm ông ta không hài lòng, cũng như lo sợ điều sẽ xảy đến nếu ông ta rời vị trí.

Việc Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật Magnitsky vào cuối năm 2012 là phép thử cho sự kiểm soát của Putin đối với tầng lớp cấp cao của nước Nga. Được đặt tên theo Sergei Magnitsky, một luật sư người Nga đã chết trong tù vào năm 2009 sau khi bị bắt vì lật tẩy tham nhũng của các quan chức, đạo luật này cho phép Mỹ áp đặt các biện pháp trừng phạt (cấm nhập cảnh và đóng băng tài sản) lên một số quan chức Nga được chỉ đích danh. Đạo luật được thông qua như một nỗ lực nhằm cho từng cá nhân trong giới quan chức cấp cao của Putin thấy họ có thể bị quy trách nhiệm cá nhân khi vi phạm nhân quyền ngay trên chính đất nước họ. Sau khi chính phủ Mỹ đưa ra danh sách 18 người Nga bị trừng phạt vào tháng 4 năm 2013, các quan chức trong bộ máy của Putin đã xuất hiện trên các chương trình quan trọng của truyền hình quốc gia để bác bỏ và chỉ trích lệnh trừng phạt này. Dù đạo luật này của Mỹ đã khiến nhiều cá nhân cấp cao trong chính quyền Matxcơva cảm thấy rằng ủng hộ Putin sẽ không còn có lợi cho họ nữa, nhưng việc những nhân vật này xuất hiện trên truyền hình quốc gia đã đưa ra tín hiệu cho các bên chủ chốt rằng điện Kremlin của Putin sẽ không lùi bước trong việc đòi hỏi họ tiếp tục trung thành.

Tương tự như vậy, điện Kremlin cũng có thể sử dụng truyền thông đã được chế ngự để kiểm soát các quan chức địa phương. Trong chiến dịch trấn áp các phe nhóm đối lập sau khi Putin bước vào nhiệm kỳ tổng thống thứ ba vào tháng 5 năm 2012, truyền thông nhà nước đã tán dương đặc biệt những thống đốc đã ra lệnh bắt giữ các nhà hoạt động đối lập.

Shares

Pages: 1 2 3

Đất Việt là nơi tự do bày tỏ ý kiến, không có chế độ kiểm duyệt. Rất mong nhận được ý kiến của độc giả.

22 queries in 1.827 seconds.