Hồ sơ tiêm kích hạm F/A-18 danh tiếng của Mỹ (3)

Phiên bản chính thức đầu tiên của tiêm kích hạm F/A-18 trang bị radar AN/APG-65, tải trọng vũ khí 7 tấn.

Hồ sơ tiêm kích hạm F/A-18 danh tiếng của Mỹ (3)

Cửa hút khí của F/A-18A có hình dạng chữ D và có tấm xẻ khí cố định nằm phía trước cửa hút khí.

Máy bay tiêm kích đa năng F/A-18A

Phiên bản sản xuất hàng loạt đầu tiên của dòng tiêm kích hạm F/A-18được định danh là F/A-18A Hornet. Nó có thân hình phi tiêu, nắp buồng lái của phi công dạng bong bóng cung cấp trường nhìn xung quanh tốt. Cánh chính hình nêm lớn với gốc cánh kéo dài (LERX); cặp cánh đuôi đứng nghiêng ra bên ngoài một góc 45 độ; cánh đuôi ngang và 2 động cơ General Electric F404-GE-400 có khả năng tái khai hỏa. Khoảng một nửa trọng lượng của máy bay là làm từ nhôm máy bay, các thành phần khác là thép khoảng 17%, 13% titan, và 10% chất dẻo làm từ sợi thủy tinh cường lực (Glass-Reinforced Plastic/GRP).

Cửa hút khí của 2 động cơ có hình dạng chữ D và có tấm xẻ khí cố định nhằm tách lớp biên (boundary layer) của không khí ra khỏi động cơ để động cơ không bị ảnh hưởng đến hiệu suất khi bay. Động cơ F404-GE-400 được thiết kế để tăng độ tin cậy, đơn giản trong sử dụng và bảo trì, có hiệu suất cao. F404-GE-400 cung cấp lực đẩy lên đến 61,2 kN (7256 kgp / 16.000 lbf) khi tái khai hỏa. Một hệ thống chữa cháy tự động được trang bị giữa các động cơ.

Mặc dù có động cơ mạnh nhưng máy bay F/A-18A không đạt đến tốc độ tối đa trong khoảng Mach 2 kể từ khi Hải quân Mỹ đã không chỉ định tốc độ tối đa là Mach 2 nữa – một sự thay đổi đáng ngạc nhiên trong tư duy. Nếu là 2 thập kỷ trước đó thì tốc độ như vậy sẽ là gần như bắt buộc đối với một chiếc máy bay như vậy. Tuy nhiên, Hải quân Mỹ đã nhận ra rằng chỉ tìm kiếm tốc độ ở máy bay là ảo tưởng: máy bay gần như không bao giờ đạt được tốc độ này khi mang tải nặng và thường không cần thiết trong thực tế.

Để phi công trèo vào buồng lái, F/A-18A sử dụng một chiếc thang có thể rút lại vào gốc cánh kéo dài bên trái. Buồng lái trang bị ghế phóng Martin Baker Mark 10 (SJU-5/A). 3 màn hình hiển thị thông tin đa chức năng đơn sắc dùng đèn chân không (Cathode Ray Tube/ CRT ) Kaiser, một màn hình hiển thị trên đầu phi công (HUD), cần điều khiển kiểu HOTAS. Bố trí buồng lái của Hornet là công nghệ hàng đầu vào thời điểm đó, và F/A-18A cũng là một trong những máy bay sản xuất đầu tiên có hệ thống bay bằng dây cáp (Fly-By-Wire/FBW) kỹ thuật số.

Ho so tiem kich ham F/A-18 danh tieng cua My (3)-Hinh-2
Để phi công trèo vào buồng lái, F/A-18A sử dụng một chiếc thang có thể rút lại vào gốc cánh kéo dài bên trái.

Ho so tiem kich ham F/A-18 danh tieng cua My (3)-Hinh-3
Buồng lái F/A-18A vói 3 màn hình hiển thị đa chức năng đơn sắc Kaiser.

“Mắt thần” F/A-18A mạnh cỡ nào?

Phiên bản chính thức đầu tiên của tiêm kích hạm F/A-18 sử dụng radar xung Doppler AN/APG-65. Đây là radar đa chế độ, sử dụng băng sóng J, làm mát bằng nước của Hughes, có thể cung cấp khả năng không chiến cũng như tấn công các mục tiêu dưới mặt đất và dẫn đường.

AN/APG-65 dùng tần số lặp xung (Pulse Repetition Frequency/ RPF) cao và trung bình để cung cấp khả năng tiếp nhận tất cả các tham số về mục tiêu. Đối với các nhiệm vụ không chiến, AN/APG-65 sử dụng 3 chế độ tìm kiếm/theo dõi để đánh chặn tầm xa (khoảng 200km) và 4 chế độ tự động theo dõi để cơ động khi không chiến trong tầm nhìn (150m đến 10km). AN/APG-65 có thể phát hiện và theo dõi đồng thời 10 mục tiêu, tiêu diệt 1 mục tiêu. Các chế độ tìm kiếm/ theo dõi bao gồm:

Đối với không chiến tầm xa:

– Quét tốc độ (Velocity Search/ VS).

– Cung cấp thông tin về khoảng cách mục tiêu trong khi quét (Range-While-Search/ RWS).

– Đột kích (Raid Assessment/ RAID).

Đối với không chiến trong tầm nhìn:

– Điều chỉnh radar theo hướng của mục tiêu (Boresight).

– Quét thẳng đứng (Vertical Acquisition/ VACQ).

– Quét góc rộng trong phạm vi gần (Wide Acquistion/ WACQ).

– Chỉ thị muc tiêu cho pháo (Gun Director).

Khi thực hiện nhiệm vụ không-đối-đất, AN/APG-65 cung cấp một số chế độ sau:

– Vẽ bản đồ thời gian thực (Real Beam Ground Mapping/ RBGM).

– Theo dõi mục tiêu cố định (Fixed Target Track/ FTT).

– Theo dõi mục tiêu di động (Ground-Moving Target Track/ GMTT).

– Đo khoảng cách đến mục tiêu dưới đất (Air-to-Surface Ranging/ASR).

– Quét mục tiêu trên mặt biển (Sea Surface Search/SSS).

Ho so tiem kich ham F/A-18 danh tieng cua My (3)-Hinh-4
Radar Doppler AN/APG-65 lắp trên F/A-18A.

– Hệ thống điện tử hàng không

Hệ thống phòng vệ trên F/A-18A bao gồm: ăngten cảnh báo bị radar khóa (Radar Warning Receiver/ RWR) AN/ALR-67, bộ phóng mồi bẫy nhiễu xạ, hồng ngoại AN/ALE-39, hệ thống gây nhiễu AN/ALQ-126B. Một số hệ thống điện tử hàng không khác bao gồm hệ thống dẫn đường quán tính (Initial Navigation System/ INS) Litton AN/ASN-130, một hệ thống phân biệt bạn-thù (IFF) AN/APX-100, radio UHF, và một hệ thống nhận thông tin từ các trạm dẫn đường chiến thuật (Tatical Air Navigation/TACAN).

Ho so tiem kich ham F/A-18 danh tieng cua My (3)-Hinh-5
Phía dưới của hút khí, được khoanh đỏ là ăng ten cảnh báo bị radar khóa AN/ALR-67.

Ho so tiem kich ham F/A-18 danh tieng cua My (3)-Hinh-6
Một số hệ thống điện tử hàng không trên cánh đuôi đứng của F/A-18A: trên cùng khoanh đỏ là ăng ten gây nhiễu băng sóng cao AN/ALQ-126B, ở dưới khoanh xanh là ăngten gây nhiễu băng sóng thấp AN/ALQ-126B.

– Vũ khí trên F/A-18A

Tiêm kích hạm F/A-18A được trang bị một khẩu pháo 6 nòng xoay 20mm M61 Vulcan với 578 viên đạn. sơ tốc đầu nòng của pháo là 1050m/s với tốc độ bắn lên đến 6000 phát/phút. Khẩu pháo này được lắp phía sau radar và trước buồng lái của phi công. Hệ thống đặt pháo được thiết kế cẩn thận để tránh rung động từ pháo làm hư radar. Các thiết bị phân tán khói do pháo gây ra khi bắn đựợc đặt trên gốc cánh kéo dài để ngăn không cho khói bị hút vào động cơ, có thể gây ra việc thất tốc và tránh việc khói che mất tầm nhìn của phí công. Ánh chớp từ pháo không phải là một vấn đề.

F/A-18A có 9 giá treo vũ khí, 2 giá treo ở đầu cánh, 4 giá treo ở dưới cánh chính, 2 giá treo ở 2 bên cửa hút khí máy bay và 1 giá treo ở trung tâm thân máy bay với tải trọng vũ khí tối đa là 7.080kg. Vì F/A-18A là một máy bay tiêm kích đa chức năng nên nó có thể mang đa dạng các loại vũ khí khác nhau bao gồm:

Không-đối-không:

– Tên lửa AIM-9 Sidewinder

– Tên lửa AIM-7 Sparrow.

Ho so tiem kich ham F/A-18 danh tieng cua My (3)-Hinh-7
 F/A-18A vũ trang với 2 tên lửa AIM-9 Sidewinder, 4 tên lửa AIM-7 Sparrow và 3 thùng nhiên liệu phụ 1200 lít.

Không-đối-đất:

– Rocket 127mm Zuni.

– Rocket 70mm Hydra.

– Tên lửa AGM-65 Maverick.

– Tên lửa chống bức xạ AGM-88 HARM.

– Tên lửa chống hạm AGM-84 Harpoon.

– Bom có điều khiển AGM-62 Walleye.

– Bom có điều khiển Paveway I, II, III.

– Bom Mk82, Mk83, Mk84.

– Bom chùm Mk20 Rockeye, CBU-59, CBU-87, CBU-79, CBU-97.

– Bom hạt nhân B61.

Ho so tiem kich ham F/A-18 danh tieng cua My (3)-Hinh-8
F/A-18A với 8 quả bom Mk83.

Một số hệ thống treo ngoài.

– Hệ thống theo dõi mục tiêu được chỉ thị bằng laser có vỏ bọc Martin Marietta AN/ASQ-173.

– Hệ thống dò tìm hồng ngoại phía trước Ford Aerospace AN/AAS-38 Nite Hawk.

– Thùng dầu phụ 1200 lít.

Ho so tiem kich ham F/A-18 danh tieng cua My (3)-Hinh-9
 Hệ thống theo dõi mục tiêu được chỉ thị bằng laser có vỏ bọc Martin Marietta AN/ASQ-173.

Máy bay tiêm kích huấn luyện F/A-18B

F/A-18B là máy bay tiêm kích huấn luyện 2 chỗ ngồi giống hệt F/A-18A, được bổ sung thêm một chỗ ngồi thứ hai ở phía sau. Cả hai vị trí ngồi được trang bị ghế phóng Martin Baker Mark 10 (SJU-6A). F/A-18B sử dụng chế độ điều khiển kép.

Mặc dù là máy bay huấn luyện nhưng F/A-18B có thể chiến đấu như F/A-18A. Kích thước bên ngoài cũng tương tự như đối với F/A-18A, nhưng với chỗ ngồi thứ hai làm máy bay phải bỏ khoảng 6% nhiên liệu trong thân; một số các module hệ thống điện tử hàng không phải dời đi chỗ khác.

Ho so tiem kich ham F/A-18 danh tieng cua My (3)-Hinh-10
 Máy bay tiêm kích huấn luyện F/A-18B.

Máy bay trinh sát RF-18

Một phiên bản trinh sát chuyên dụng của Hornet, với mũi máy bay đã được chỉnh sửa và thay thế pháo M61 Vulcan với camera trinh sát và một số cảm biến. Chỉ có 2 chiếc RF-18 duy nhất, được chế tạo từ khung máy bay F/A-18A, thực hiện chuyến bay đầu tiên vào ngày 15 tháng 8 năm 1984. 2 nguyên mẫu này đã không giúp phiên bản trinh sát của F/A-18A/B Hornet đi vào sản xuất.

Ho so tiem kich ham F/A-18 danh tieng cua My (3)-Hinh-11
Nguyên mẫu máy bay trinh sát RF-18 với camera và cảm biến lắp dưới mũi máy bay.

Chương trình nâng cấp F/A-18A và F/A-18B

Khi các phiên bản sản xuất F/A-18A và F/A-18B đóng dây chuyền và sản xuất các phiên bản F/A-18C và F/A-18D mới hơn. Và để giữ cho 2 phiên bản A và B hữu ích, một chương trình nâng cấp đã được khởi xướng vào năm 1995. Có 2 chương trình nâng cấp riêng biệt tên là “Đề nghị thay đổi kỹ thuật (Engineering Change Proposal/ ECP)”, một cho lực lượng dự bị của Hải quân, tên là ECP 560 và một cho Thủy quân Lục chiến, tên là ECP 583. Không phải tất cả máy bay F/A-18A/B được nâng cấp, chỉ những máy bay nào có khung máy bay tốt với giờ bay tương đối thấp được nâng cấp.

Ho so tiem kich ham F/A-18 danh tieng cua My (3)-Hinh-12
F/A-18A sau khi nâng cấp, có khả năng mang tên lửa AIM-120 AMRAAM.

Cả hai chương trình nâng cấp các bộ vi xử lý và hiển thị buồng lái; Khả năng định vị GPS; hệ thống điện tử hỗ trợ cho thiết bị chỉ thị mục tiêu hiện đại, ví dụ như LITENING, radar hỗ trợ cho tên lửa AIM-120 AMRAAM. Sự khác biệt lớn nhất giữa hai chương trình nâng cấp là radar; Hải quân giữ lại các radar AN/APG-65 cũ, thêm một số sửa đổi, như thêm chế độ Theo dõi trong khi quét (Track-While-Scan/ TWS) để cho phép nó hỗ trợ tên lửa AIM-120 AMRAAM, trong khi các máy bay của Thủy quân Lục chiến dùng radar AN/APG-73 mới, tương tự loại radar dùng trên F/A-18C/D. Thủy quân Lục chiến cũng nâng cấp thêm một radio phân biệt bạn-thù mới AN/ARC-111. Sau một chương trình phát triển, nâng cấp chính thức bắt đầu vào năm 2000.

Shares

Đất Việt là nơi tự do bày tỏ ý kiến, không có chế độ kiểm duyệt. Rất mong nhận được ý kiến của độc giả.

41 queries in 2.580 seconds.