Giá như Việt Nam Cộng Hòa được tự do …

Giá như Việt Nam Cộng Hòa được tự do …

Shares

Hãy nhìn các nước Đông Á ngày nay và tưởng tượng rằng Nam Việt Nam có thể đã được như vậy.

30 tháng 4 này là lễ kỷ niệm 40 năm Sài Gòn sụp đổ. Bốn mươi năm sau khi người Mỹ bỏ rơi Nam Việt Nam, lời nói dối trong lịch sử Hoa Kỳ vốn được chấp nhận rộng rãi là việc Mỹ tham chiến ở Đông Dương là một ý tưởng xấu. Với hầu hết mọi giới thì rõ ràng cuộc chiến Việt Nam là một sai lầm, và một vài nhân vật bảo thủ vẫn xem đó là điều vẫn cần phải thảo luận. Khi những người thuộc Đảng Cộng Hòa bàn đến Việt Nam, họ bảo vệ các binh lính. Thỉnh thoảng có người chỉ ra rằng Tết Mậu Thân là chiến thắng của người Mỹ. Thỉnh thoảng, lại có ý kiến cho rằng Mỹ Lai là sự cân bằng với hàng ngàn sự thảm sát tương tự khác và hàng tá các cuộc thảm sát ghê gớm hơn mà Việt Cộng và Bắc Việt đã gây ra. Hiếm có ai chỉ ra rằng khi tướng Creighton Abrams nhậm chức thay Tướng William Westmoreland làm Tư lệnh Các Lực lượng Viễn chinh Hoa kỳ tại Việt Nam, thì người Mỹ chúng ta đã bắt đầu thắng trận – và với việc không giữ đúng cam kết của Hiệp Định Paris, Thượng Viện Hoa Kỳ đã vồ lấy được sự thất thủ của Nam Việt ngay trước đà chiến thắng của lực lượng viễn chinh

Xưa

Thay vì phải tranh cãi các vấn đề này thì tôi sẽ nêu ra các dữ kiện về Đông Á hiện đại. Sau khi chủ nghĩa thực dân sụp đổ sau cuộc đại thế chiến lần thứ hai, Đông Á đã bắt đầu tự vươn lên. Người Mỹ ủng hộ ba chính quyền chống cộng trong công cuộc chống lại sự lan tỏa của chủ nghĩa Marx, đó là Cộng Hòa Trung Hoa chống lại Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Cộng Hòa Triều tiên chống lại Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên, và Việt Nam Cộng Hòa chống lại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nói cách khác là Đài Loan và Tàu Cộng, Bắc Hàn và Nam Hàn, và Nam Việt – Bắc Việt.

Hai trong số ba quốc gia này giờ đây là một trong số các quốc gia phát triển cao nhất, thịnh vượng nhất và tự do nhất thế giới… Một trong những chỉ trích của chủ nghĩa Hòa bình đối với việc Mỹ ủng hộ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là họ không phải là chính quyền dân chủ. Điều này hoàn toàn đúng, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa do quân đội kiểm soát với sự tham gia của các cấp dân sự. Tuy nhiên, theo như Leo Ryan, một Thượng Nghị Sỹ phản chiến thì ” Mặc dù Việt nam Cộng Hòa không phải là thành lũy của các chuẩn mực dân chủ, thì điều tồi tệ nhất của việc đàn áp nhân quyền trên diện rộng đã bị thổi phồng lên.”

Không có gì phải nghi ngờ khi ở đó vẫn còn có một số tù nhân chính trị, nhưng không ai trong dân chúng cũng như các nhà chính trị đối lập lại có vẻ lo sợ bị chính quyền đàn áp. Giống như Việt Nam Cộng Hòa, Cộng Hòa Trung Hoa và Hàn Quốc cũng đã có trải qua giai đoạn độc tài quân phiệt. Hàn Quốc do Tướng Park Chung-hee lãnh đạo từ năm 1961 cho đến tận lúc ông ta bị ám sát vào năm 1979. Chính quyền của ông ta lúc đó đã bị các cuộc đàn áp chính trị làm mất uy tín, nhưng ông ta đã xây dựng nền kinh tế Hàn Quốc thành một cường quốc, làm nền tảng cho nền dân chủ mà Hàn Quốc đang có được ngày hôm nay.

Tương tự như vậy, Cộng Hòa Trung Hoa cũng do tướng Chiang Kai-shek lãnh đạo cho đến khi ông ta chết năm 1975. Giống như Park Chung-hee, việc lãnh đạo của ông Chiang cũng bị làm hoen ố bởi các cuộc đàn áp, nhưng ông ta cũng đã tạo nên được sự thịnh vượng vô cùng to lớn và dưới sự cai trị của con trai ông, ông Chiang Chin-kuo, Đài Loan đã chuyển mình thành một quốc gia hoàn toàn tự do và dân chủ.

Nay

Thật đáng xấu hổ khi Đài Loan vẫn không được Liên Hiệp Quốc công nhận như là một lãnh thổ độc lập. Tuy nhiên nếu chiếu theo các công thức về chỉ số phát triển nhân loại của Liên Hiệp quốc khi căn cứ vào tiêu chuẩn sống thì Đài Loan là một trong những quốc gia phát triển nhất thế giới. Hàn Quốc giữ vị trí thứ 15. Cả hai quốc gia này đều qua mặt cả các nước châu Âu như Áo, Bỉ, Luxembourg, Ý hay Phần Lan; Hàn Quốc còn theo sát cả Nhật, Pháp và Israel. Mặc dù không có tài nguyên thiên nhiên nhưng Đài loan được xếp hạng thứ 19 khi xét về Tổng thu nhập GDP với mức 45.854 đô la một năm, vượt qua Canada, Đan Mạch, Bỉ, Pháp, Vương Quốc Anh, Nhật và Ý. Cũng nghèo tài nguyên thiên nhiên gần giống như Đài Loan, Hàn Quốc được xếp hạng thứ 30, trên cả New Zealand, Tây Ban Nha và luôn cả hai nước thuộc Czechoslovakia trước đây.

So sánh với những gì mà các quốc gia cộng sản đã dạt được, thì Trung Cộng được xếp hạng sau Đài Loan 70 bậc, tức đứng sau cả Turkmenistan, Algeria, Libya, the Maldives, và Iraq. Bắc Triều Tiên gần như đội sổ, đứng sau cả Zimbabwe, Rwanda, và Haiti. Xét về tiêu chí phát triển con người thì Trung Cộng cũng vẫn thua Đài Loan 70 bậc và đứng sau Tunisia, Peru, Grenada, và Azerbaijan. Chỉ tiêu phát triển con người ở Bắc Triều Tiên thì rõ ràng không thể nào tính toán cho chính xác được.

Và nếu so sánh với các quốc gia cộng hòa tự do được người Mỹ chống lưng với Việt Nam – Thiên đường của ông Hồ Chí Minh – thì Việt Nam xếp hạng 122 về mặt phát triển con người, đứng sau Syria, Iraq, Moldova, và Gabon, và GDP Việt Nam có thứ hạng 126 thua cả Cộng hòa Congo, Swaziland, Dominica, và Albania. Có lẽ đây chỉ là những kết quả không thể nào tránh khỏi được do truyền thống thanh trừng địa chủ, giáo viên và trí thức của Cộng sản Quan trọng hơn cả nền kinh tế hãy nhìn vào tự do tương đối của họ. Đài Loan và Hàn Quốc có tự do bầu cử, bộ máy tư pháp độc lập, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp và tự do ngôn luận . Cả Trung Cộng lẫn Bắc Triều Tiên đều không có được bất cứ một điều nào vừa nêu. Và dĩ nhiên, người Việt Nam cũng không có nốt, Đảng Cộng Sản vẫn tiếp tục kiểm soát bầu cử và tòa án, và họ vẫn tiếp tục bắt bớ, tra tấn các nhà bất đồng chính kiến chính trị và tôn giáo.

Giá như…

Hãy tưởng tượng xem Việt Nam Cộng Hòa tức Nam Việt sẽ ra sao ngày nay. Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 13 trên thế giới với hơn 90 triệu dân. Ít ra là một nửa trong số họ đã có thể được sống một cuộc sống với sự tự do và thịnh vượng như người Hàn Quốc và Đài Loan. ( Có lẽ thậm chí lại còn có thể thịnh vượng hơn cả Đài Loan và Hàn Quốc, bởi vì Việt Nam hơn hẳn hai quốc gia này về tài nguyên thiên nhiên đó là dầu khí). Vì vậy theo cái nhìn trong năm 2015 về các hoàn cảnh trong thập niên 60 và 70, thì cuộc đấu tranh cho Nam Việt là một điều đúng đắn. Và giờ đây nhiều người đã lên tiếng như vậy, đặc biệt là các chính trị gia và các giáo sư, đặc biệt bởi vì các cựu binh Việt nam đang ngày càng già đi. Và bởi vì sau 40 năm Sài Gòn sụp đổ, chúng ta cần phải nhìn ra được bài học của cái giá thảm khốc phải trả khi người Mỹ từ chối chiến đấu cho một cuộc chiến chính nghĩa khi xưa.

Nguồn: http://www.nationalreview.com/article/417468/if-south-vietnam-were-free-today-josh-gelernter

Phương Thảo dịch /:J:

Đất Việt là nơi tự do bày tỏ ý kiến, không có chế độ kiểm duyệt. Rất mong nhận được ý kiến của độc giả.