FED tăng lãi suất và canh bạc cho nền kinh tế thế giới

Không ít người ví việc FED tăng lãi suất là một việc cần thiết để duy trì ổn định kinh tế Mỹ và thế giới, nhưng cũng có người cho rằng điều này đang đẩy nước Mỹ và thế giới vào một cuộc suy thoái mới. Ở thời điểm hiện tại, xác suất đang là 50/50.

FED tăng lãi suất và canh bạc cho nền kinh tế thế giới

Shares

Việc cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất lên 0,25 và 0,5% khiến đồng USD tăng giá vào những ngày cuối cùng của năm 2015 đang được xem là một sự kiện gây tranh cãi lớn. Ở Trung Quốc, số lãnh đạo và các doanh nghiệp nước này mất thiện cảm với Mỹ có vẻ như tăng lên đáng kể, khi nước này được dự báo sẽ đối mặt với nhiều khó khăn qua sự kiện này.

Nhưng có vẻ như việc FED tăng lãi suất còn có tác động lớn hơn nhiều việc khiến người Trung Quốc tức giận, mà có vẻ như nó còn đang tạo ra một cuộc tranh cãi lớn trong giới tài chính trên toàn cầu.

Không ngạc nhiên khi những người đưa ra nhận định tiêu cực nhất về việc FED tăng lãi suất lại là những chuyên gia và nhà kinh tế Mỹ. Ông David Kelly, giám đốc chiến lược toàn cầu của JPMorgan Funds, đang là người đi đầu trong việc bày tỏ sự nghi ngờ về việc tăng lãi suất vừa qua. Vị giám đốc của JPMorgan cho rằng FED đã quá chậm chạp trong lần tăng lãi suất này, và lẽ ra FED phải hành động sớm hơn với mức tăng lớn hơn.

Kinh tế Mỹ trên thực tế đã có dấu hiệu hồi phục mạnh mẽ từ cách đây hơn một năm, khi đầu tư tăng và tỷ lệ thất nghiệp giảm mạnh. Nếu xu hướng này tiếp tục diễn ra với tốc độ hiện nay, kinh tế Mỹ có nguy cơ rơi vào tình trạng tăng trưởng quá nóng, do tỷ lệ thất nghiệp giảm dưới mức toàn dụng lao động, khiến cho quỹ lương phình to và lạm phát sẽ lại xuất hiện, đưa kinh tế Mỹ vốn vừa mới hồi phục quay trở lại tình trạng suy thoái.

Điều này là có cơ sở, khi tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đang được đánh giá là trên mức 1% một chút, và được dự báo sẽ giảm còn khoảng 0,4% trong thời gian tới, trong khi tăng trưởng GDP của Mỹ trong ba năm qua lên tới 2,2 – 2,4%. Nếu tỷ lệ thất nghiệp giảm sâu hơn trong khi lãi suất chưa ổn định có thể khiến lạm phát vượt mức kiểm soát.

Và khi mà kinh tế Mỹ lại rơi vào suy thoái thì nó có thể kéo cả kinh tế thế giới rơi cùng, nhất là khi các nền kinh tế lớn khác trên thế giới như EU, Nhật hay Trung Quốc vẫn đang có mức tăng trưởng chậm. Vị giám đốc của JPMorgan cũng dự báo trong năm 2016 có thể FED sẽ tăng lãi suất thêm từ 1 tới 2 lần nữa mới có thể đạt được sự ổn định.

Cũng tỏ ra nghi ngờ về việc FED tăng lãi suất, nhưng cựu bộ trưởng tài chính Mỹ Larry Summers lại cho rằng FED không nên tăng lãi suất và cần phải tiếp tục duy trì lãi suất thấp như trước đó mới phù hợp. Ông cho rằng việc FED tăng lãi suất là đi ngược lại với xu hướng chung đang diễn ra trên thế giới là giảm lãi suất để tăng cường đầu tư.

Hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới như EU hay Nhật vẫn đang duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ, và việc FED tăng lãi suất có thể khiến các chính sách hồi phục của các nền kinh tế này giảm hiệu quả, và gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế Mỹ qua các quan hệ thương mại và kinh tế. Nói cách khác, nếu kinh tế thế giới không dư dả, thì người Mỹ cũng chịu ảnh hưởng. Larry Summer đặt cược với tỷ lệ 50/50 vào một cuộc suy thoái sẽ diễn ra với kinh tế Mỹ và thế giới trong vòng 2 năm tới.

Hai cách tiếp cận khác nhau này là sự đối lập truyền thống giữa các trường phái kinh tế Mỹ. Một trường phái cho rằng trước hết cần ổn định kinh tế Mỹ trước, sự ổn định và tăng trưởng của Mỹ sẽ kéo theo sự tăng trưởng của kinh tế toàn cầu với vai trò là một đầu tàu.

Đây là quan điểm truyền thống, trong đó đề cao vai trò của kinh tế Mỹ với kinh tế toàn cầu, vì một thực tế rằng khủng hoảng tài chính ở Mỹ là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hồi 2008. Đây cũng là quan điểm khiến FED đưa ra quyết định tăng lãi suất, với mục đích ổn định kinh tế Mỹ đặt lên hàng đầu.

Trường phái thứ hai là những người cho rằng kinh tế Mỹ chỉ thịnh vượng khi nền kinh tế thế giới ổn định, thay vì dựa vào yếu tố tự ổn định của thị trường nội địa Mỹ như trường phái thứ nhất. Khi các nền kinh tế lớn khác như EU, Nhật Bản hay Trung Quốc khởi sắc, đầu tư và trao đổi thương mại giữa các nền kinh tế này với Mỹ sẽ thúc đẩy kinh tế Mỹ hồi phục và thịnh vượng.

Chính vì thế, FED cần phải tiếp tục duy trì mức lãi suất thấp như thời gian trước đó là 0%, để duy trì tình trạng đồng USD yếu qua đó thúc đẩy đầu tư vào các thị trường EU, Nhật và Trung Quốc, giúp các nền kinh tế này hồi phục nhanh chóng hơn. Một khi FED tăng lãi suất, dòng USD sẽ có xu hướng bị rút ra khỏi các thị trường này và tuôn chảy về Mỹ, có thể khiến tốc độ hồi phục của các nền kinh tế trên bị suy giảm.

Vấn đề này vì thế đang gần giống với câu hỏi cổ điển rằng quả trứng hay con gà có trước. Đúng là kinh tế Mỹ hồi phục mạnh trong gần ba năm qua xuất phát trực tiếp từ sự hồi phục của thị trường nội địa dồi dào của nước này, nhưng nó lại gián tiếp đến từ việc kinh tế thế giới cũng dần hồi phục do tác động từ việc FED duy trì lãi suất thấp.

Có lẽ chính vì việc đang phải cùng lúc hứng chịu hai áp lực song song, là việc tăng lãi suất để ổn định kinh tế Mỹ và duy trì lãi suất thấp để giúp kinh tế thế giới hồi phục, đã khiến chủ tịch FED là bà Janet Yellen chọn giải pháp trung dung, đó là tăng lãi suất một cách vừa phải lên 0,25 và 0,5%. Mức lãi suất này tương đối thấp để có thể khiến dòng chảy USD không rời khỏi các thị trường khác trên thế giới quá nhanh, đồng thời việc tăng lãi suất cũng giúp kinh tế Mỹ ổn định hơn một chút.

Tuy nhiên, nếu như lần tăng lãi suất này chưa đủ để khiến kinh tế Mỹ ổn định và cần phải tăng hơn nữa, thì có lẽ bà Janet Yellen sẽ ưu tiên nước Mỹ hơn. Nếu như FED tăng lãi suất thêm 1 hoặc 2 lần nữa trong năm 2016, thì kinh tế thế giới được dự báo sẽ chịu ảnh hưởng khoảng gần 2 năm trước khi có thể khởi sắc trở lại, hoặc là chìm vào suy thoái thêm một lần nữa. Xác suất cho vấn đề này là 50/50.

(theo Bloomberg/CafeF)

Đất Việt là nơi tự do bày tỏ ý kiến, không có chế độ kiểm duyệt. Rất mong nhận được ý kiến của độc giả.