Đêm kinh hoàng 11 người bị bắn chết ở Quảng Nam

Cách đây 35 năm, tên cướp Minh 'Bớt' đã cầm súng bắn chết hơn 10 người trong một làng chỉ trong một đêm, gây ra vụ án chấn động.

Đêm kinh hoàng 11 người bị bắn chết ở Quảng Nam

Shares

Bà Bình bên mộ chồng, một nạn nhân của nhóm cướp đêm 19/1/1980

Những năm 1980, không chỉ ở huyện huyện Quế Sơn (nay tách thành 2 huyện Nông Sơn và Quế Sơn), mà khắp tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ), ai cũng đều ghê rợn khi nghe đến xưng danh Minh “Bớt”.

Tên cướp tên thật là Nguyễn Minh (sinh năm 1950, ngụ thôn 5, xã Quế Phước, huyện Quế Sơn) nổi tiếng tàn ác khi trước giải phóng từng nhiều lần gây án, xâu tai người chết đeo bên người.

Ngày mùng 2 tháng Chạp hằng năm, xã Quế Phước (huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam) có chung một lễ giỗ cho hàng chục nạn nhân cùng chết dưới bàn tay của Minh “Bớt”. Với họ, đêm kinh hoàng 19/1/1980 chưa biết bao giờ mới hết ám ảnh.

35 năm trôi qua, nhiều người thân của nạn nhân may mắn sống sót, vì không chịu được nỗi ám ảnh về cái chết đêm ấy, nên đã dạt đi tứ xứ mưu sinh.

Gia đình bị sát hại nhiều người nhất là gia đình ông Phạm Tảo (sinh năm 1928, công an thôn 1, ngụ thôn 1 xã Quế Phước) với 4 mạng người, trong đó vợ ông Tảo đang mang thai. Anh Phạm Hai (sinh năm 1957, con trai đầu của ông Tảo) cùng 3 đứa em nhỏ may mắn thoát chết.

Ông Hai kể, vào ngày 19/1/1980 nhằm ngày mùng 2 tháng Chạp, trời mưa rả rích, rét căm căm. Các ngôi làng bên sông Thu Bồn thời điểm này cũng mới có lèo tèo vài hộ dân sinh sống. Trời vừa tối, không điện đài, ai nấy đều lo thu mình trong nhà. Gia đình ông cũng vậy.

Vừa ăn tối xong, ông Hai ra ngoài có công việc. Tầm 19h, cha ông Hai là ông Tảo định vào giường ngủ thì nhìn thấy 2 bóng đen xuất hiện trước mặt. Chưa kịp phản ứng, một tiếng “đoàng” chát chúa vang lên, ông gục luôn xuống đất.

Bà Dương Thị Mai (sinh năm 1937, vợ ông Tảo) nghe tiếng súng nổ, liền từ sau nhà chạy vào. Nhận ra Minh “Bớt” vừa giết chết chồng mình, bà ôm lấy cái bụng vượt mặt quỳ lạy van xin, nhưng tên này vẫn lạnh lùng bóp cò.

5 người con còn lại chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng, vội chạy xuống bếp trốn nhưng Minh vẫn cho người lục tìm. Biết không có đường thoát, anh Phạm Trung (17 tuổi), chị Phạm Hoa (20 tuổi) bước ra chịu 2 phát đạn, để 3 đứa em (lớn nhất mới 10 tuổi) có cơ hội chạy ra đường, đúng lúc ông Hai quay về chứng kiến, vội đưa các em lẩn vào ruộng mía trốn thoát. Do nhà cửa thưa thớt, cuộc tàn sát cả nhà ông Tảo vẫn không một ai hay biết cho tới vài tiếng sau..

Ông Nguyễn Văn Dư (nguyên Bí thư Đảng ủy xã Quế Phước, ngụ xã Quế Phước) tập hợp lực lượng, một mặt đánh kẻng báo động tại các thôn, thông báo cho người dân không ai được ra đường, triển khai xác minh đồng thời nhờ Công an tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng hỗ trợ.

Trên đường di chuyển dọc thôn xã, nhóm Minh “Bớt” gặp ai là bắn người đó, bao gồm anh Lê Văn Nông (quê Hội An, cán bộ quân đội thuộc thị đội Hội An) đang cõng gạo, lương thực trên đường về đơn vị, ông Phan Thanh Đạt (thôn phó), Trương Hường (đội trưởng sản xuất) ở hợp tác xã thôn 1, ông Phạm Tấn Dũng (sinh năm 1930, ngụ thôn Đông An, Quế Phước, công an thôn).

Do bản thân trải qua chiến tranh loạn lạc chưa bao lâu, nên bà Lê Thị Bình (sinh năm 1940, vợ ông Dũng) luôn có phản xạ dắt con đi trú ẩn mỗi khi nghe tiếng bom đạn. Cũng nhờ vậy mà bà Bình và các con đã thoát chết trong gang tấc.

Giết 8 mạng người, mục tiêu tiếp theo của Minh “Bớt” là nhà ông Đỗ Xuân Lập. Thế nhưng khi chúng kéo tới, trong nhà chỉ có mình mẹ ông Lập. Cho tới nay, hàng thập kỷ trôi qua, nhớ lại, ông Lập vẫn không khỏi rùng mình. Đối tượng chúng cần giết là ông Lập đi vắng, cả nhà nhờ đó mà thoát chết.

Giết hụt ông Lập, nhóm kéo ra bến sông nhà ông Ba Trình (sinh năm 1930) để tìm giết bà Lê Thị Xa (sinh năm 1934, vợ ông Trình). May mắn bà Xa đi buôn chưa về, còn ông Ba Trình van xin nên chúng tha mạng, chỉ cướp vàng.

Khuya cùng ngày, con số thương vong được công an, chính quyền xã Quế Phước tổng hợp đầy đủ. Tuy nhiên, với phán đoán khả năng Minh còn lẩn quẩn khu vực thôn 5, trong khi tuyến đường liên xã là độc đạo, nên để đến thôn 1, lực lượng chức năng phải đi vòng theo hướng thượng nguồn sông Thu xuống.

1

Ông Hai, con của nạn nhân Phạm Tảo.

Ông Lập kể lại, ban ngày, tình hình địa phương được bao quát hơn, ông Dư chỉ đạo lo hậu sự cho các nạn nhân. Lúc này, xã họp khẩn và xác định được, toán cướp đang ẩn nấp trong núi Bằng Trĩ, phía trước mặt làng.

Ngoài Minh cầm đầu, còn có 3 tên khác gồm Hoàng Công Dũng (sinh năm 1952), Lương Lực (sinh năm 1946, cậu ruột Minh, cùng ngụ xã Quế Phước) và Huỳnh Luyến (sinh năm 1949, Quế Trung, Nông Sơn).

Một ngày một đêm trôi qua, từ lãnh đạo, công an, xã đội đến du kích… đều thức trắng, căng mình trực tại các điểm chốt chặn, đề phòng nhóm hung thủ quay lại giết hại bà con. Người dân trong làng cũng không một ai dám ngủ, dù nhà nhà đã đóng chặt cửa.

Rạng sáng ngày 21/1/1980, Minh cùng đồng bọn rời núi đi vào làng tiếp tục cướp tài sản. Hắn khôn ngoan xẻ đường để không đụng với các vị trí có lực lượng canh giữ, sau đó mang theo 4 cây súng xông thẳng vào nhà bà Tăng Thị Xoa (ngụ thôn 5) uy hiếp để cạy tủ cướp một chỉ vàng. Tối cùng ngày, Dũng, Luyến mang vàng về cho vợ Dũng, đổi lấy lương thực đưa lên núi. Kết thúc ngày thứ 3 kể từ khi nhóm cướp nổ súng, số người chết đã tăng lên thành 11.

2

Núi Bằng Trĩ nơi nhóm cướp ẩn náu nhiều ngày đêm.

Về nhân thân, Minh có 3 người em cùng mẹ khác cha. Trận lụt năm 1964, hai người em và mẹ Minh bị trôi chết, cha dượng và một em trai được dân làng cứu sống. Riêng Minh đi học tại trường Cao đài ở Tam Kỳ (Quảng Nam) nên không hề hấn gì.

Minh theo hết lớp 9 rồi về nhà chăn trâu. Một thời gian, Minh đi lính nhảy dù Sài Gòn trong quân đội chế độ cũ và gây ra nhiều tội ác sát hại dã man. Sau năm 1975, Minh bị đưa đi cải tạo, về lại địa phương, Minh làm nông nghiệp, lấy vợ và có hai con.

Trở lại với án mạng, khi giết chết tổng cộng 11 người, Minh cướp được 7 cây súng. Theo Ban chỉ huy cuộc vây bắt đánh giá, vị trí tên này trú ngụ thuộc 3 dãy núi kề cận, địa hình hết sức phức tạp; lực lượng đánh án phải dùng bản đồ để định vị mới mong tường tận từng vị trí ngọn đồi, khe suối. Trong khi đó, Minh có kinh nghiệm trong chiến đấu, am hiểu địa hình, bắn tỉa tốt, đang hung hăng, rất nguy hiểm.

Đêm thứ 3, thứ 4, thứ 5 trôi qua căng thẳng, các lực lượng không rời vị trí, mặc cho trời mùa đông mưa phùn rất lạnh. Ông Đỗ Xuân Lập nhớ lại, đến khoảng 20h ngày 24/1/1980, tức đêm thứ 6, cả đội đang quan sát mục tiêu, đột ngột từ trên đỉnh đồi phát ra 3 tiếng nổ liên hồi.

Kiên nhẫn đợi qua đêm, sáng ngày 25/1/1980, các lực lượng chức năng nhận lệnh tấn công, quyết không kéo dài thời gian thêm, thì bất ngờ Minh “bớt” xuất hiện, giơ tay từ trên núi đi xuống xin hàng.

Đại tá Nguyễn Thanh Hùng, nguyên Trưởng phòng Cảnh sát bảo vệ và Cơ động Công an TP Đà Nẵng trực tiếp còng tay Minh, áp tải về trụ sở cơ quan điều tra để lấy cung.

Vừa thấy Đại tá Hùng, Minh đáp tỉnh bơ: “Đừng lo, mấy người trên nớ em bắn chết sạch rồi”. Đúng như lời Minh, tiếp cận hiện trường, Dũng, Luyến, Lực đều đã tắt thở từ trước.

Tại đây, tang vật vụ án thu gồm 7 khẩu súng các loại, một số đạn, lương thực. Đại tá Hùng khi đó đã phải thốt lên: “Trong đời làm công an của tôi, chắc không thể có vụ nào mà mức độ tàn sát dã man như vậy”.

Sau này ra tòa, mỗi lời khai của Minh đều được người dự khán, ông Lập, ông Hai, bà Bình, ông Dư… nhớ từng chữ, dù đã 35 năm trôi qua.

Do biết bị bao vây khó thoát, Minh bàn với Lực bắn chết Luyến và Dũng để xuống hàng, rồi đổ tội cho “tụi nó xúi”. Sau đó, Minh giết luôn cả Lực. Lúc đó thấy trời tối nên Minh không dám ra hàng vì sợ bị tiêu diệt, phải đợi đến sáng hôm sau.

Về động cơ gây án, Minh khai, từng thù hằn cán bộ từ trước, Minh mới thành lập băng nhóm đi cướp bóc, bắn giết cán bộ nhằm “thị uy”. Một số nạn nhân là người thân của cán bộ, Minh gây án trong trạng thái “hăng tiết” chứ không chủ đích tước mạng sống của họ.

Sau khi vào trại giam của Bộ Công an tại phía Nam, Minh đã cướp súng, bắt chết hai chiến sĩ công an rồi trốn trại. Chạy lên Tây Nguyên, Minh giết thêm một người dân nữa. Như vậy, hắn đã cướp đi tới 17 mạng người. Một thời gian sau, Minh bị bắt lại.

Ngày 17/7/1980, Nguyễn Minh bị đưa ra xét xử sơ thẩm với nhiều tội danh, bạo loạn, giết người, cướp tài sản. Tòa nhận định, hành vi tổ chức, cướp vũ khí, giết 11 người dân và cán bộ, giết thêm 3 đồng bọn để bịt đầu mối, chạy tội… đã rõ ràng, hết sức dã man, tuyên phạt Nguyễn Minh mức án tử hình. Minh kháng cáo. Ngày 29/10/1980, TAND tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm, y án tử hình đối với Nguyễn Minh.

Theo Pháp Luật Việt Nam

Đất Việt là nơi tự do bày tỏ ý kiến, không có chế độ kiểm duyệt. Rất mong nhận được ý kiến của độc giả.