Căng thẳng Biển Đông: Nhật Bản siêt chặt quan hệ với Việt Nam, Philiphines qua ODA

Căng thẳng Biển Đông: Nhật Bản siêt chặt quan hệ với Việt Nam, Philiphines qua ODA

Shares

Biển Đông nằm trong tính toán chiến lược của Nhật Bản, và Philiphines và Việt Nam là hai quốc gia được nhắm tới trong tăng cường viện trợ, theo The Diplomat.

Khi các dự án xây dựng của Trung Quốc và hoạt động tự do chuyển hướng của Hoa Kỳ làm gia tăng thêm căng thẳng ở Biển Đông, Nhật Bản đang tăng cường hợp tác với các quốc gia yêu sách khác – đáng kể nhất là Philippines và Việt Nam. Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản (ODA) đóng một vai trò lớn trong sự hợp tác này.

Nhật Bản và Philippines đã trở thành “đối tác chiến lược” trong năm 2011. Hợp tác an ninh đã tăng lên kể từ đó: Cả hai nước đã tiến một bước cụ thể hơn thời gian gần đây khi Tập đoàn hàng hải Nhật Bản trúng thầu cung cấp cho Vụ Giao thông vận tải Philippine mười tàu phản ứng nhanh vào tháng tư vừa qua với giá trị viện trợ lên đến 200 triệu đô la ODA, chính phủ Philippines chỉ chi 30 triệu đô la để có được số hang này. Việc giao hàng được dự kiến sẽ diễn ra từ năm 2016 đến năm 2018. Trong khi đó, vào tháng Năm, Manila – Tokyo đã tiến hành tập trận hải quân chung đầu tiên của họ ở Biển Đông.

Khi Tổng thống Philippines Benigno Aquino III đến thăm Tokyo vào tháng Sáu, ông đã ký Tuyên bố chung về Quan hệ Đối tác Chiến lược Tăng cường với Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe. Trong chuyến thăm đó, hai bên nhất trí nghiên cứu việc chuyển giao vũ khí và công nghệ quân sự của Nhật Bản đến Philippines và cả hai sẽ bắt đầu các cuộc thảo luận về một thỏa thuận về một lực lực bộ binh Nhật đóng quân trên đất Philiphines.

Sau một cuộc họp song phương với Aquino bên lề Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) vào cuối tháng Mười, Abe cho biết trong một thông cáo báo chí, “Chúng tôi hoan nghênh về nguyên tắc chuyển giao thiết bị quốc phòng và đồng ý làm việc cùng nhau để sớm ký kết các thỏa thuận và thực hiện hợp tác trong thiết bị quốc phòng. “Hơn nữa, ông nói thêm rằng Tổng thống Aquino đã yêu cầu ” cung cấp tàu tuần tra lớn cho Cảnh sát biển Philippines.”

Trang tin Asahi Shimbun tuần trước cho biết, Nhật Bản đang xem xét cung cấp TC-90 hai động cơ máy bay phản lực cánh quạt đã qua sự dụng, vốn dành để đào tạo lực lượng phòng vệ hàng hải Nhật Bản (MSDF). Manila có khả năng sẽ sử dụng các máy bay này cho nhiệm vụ tuần tra vùng biển Đông.

Cần nhấn mạnh, Nhật Bản và Philippines là đồng minh hiệp ước.

Nhật Bản cũng đã có “đối tác chiến lược” với Việt Nam – lâu hơn, từ năm 2006, khi ông Abe là thủ tướng lần đầu tiên. Hợp tác với Việt Nam cũng đã tăng gần đây. Ví dụ, Nhật Bản hứa sẽ cung cấp cho Việt Nam sáu tàu tuần tra vào năm ngoái; dự kiến sẽ hoàn tất giao hang trong năm nay. Sáu tàu bao gồm hai tàu của Cơ quan tuần tra Thủy sản Nhật Bản và bốn tàu đánh cá thương mại đã qua sử dụng, dùng cho mục đích tuần tra. Thỏa thuận này được tài trợ thông qua một gói ODA trị giá 4 triệu đô la.

Sau cuộc họp quốc phòng vào đầu tháng mười, Nhật Bản và Việt Nam đã đồng ý rằng các tàu MSDF sẽ được phép ra vào tại Vịnh Cam Ranh. Vịnh Cam Ranh là một cảng nước sâu ở miền Trung Việt Nam và có mối liên hệ lịch sử mạnh mẽ với Nga (Liên Xô). Tập trận hải quân chung giữa MSDF và Hải quân Việt Nam cũng đã được thảo luận.



Vốn ODA không những mang tính chất bồi thường cho các quốc gia Đông Nam Á, mà còn là nguồn vốn dung để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Tokyo từ thập niên 80 của thế kỷ 20.

Trước những năm 1980, viện trợ của Nhật Bản đến Philippines đã tạo cơ hội cho doanh nghiệp Nhật Bản xâm nhập vào thị trường nước này. Tuy nhiên, Hoa Kỳ bắt đầu đòi hỏi Nhật Bản làm nhiều hơn để cung cấp an ninh khu vực, thay vì tăng chi tiêu quốc phòng của nước này, Nhật Bản phản ứng bằng cách đẩy mạnh hỗ trợ phục hồi kinh tế của Philippines. Akira Takahashi mô tả điều này tam giác trách nhiệm, và lập luận rằng “ODA của Nhật Bản đến Philippines là vấn đề quan hệ tam giác giữa Mỹ, Philippines và Nhật Bản.” Nhật Bản tăng viện trợ cho Philippines vì công nhận sự ổn định của quần đảo này là quan trọng đối với an ninh của Nhật Bản.

Đối với Việt Nam, tình hình có chút phức tạp hơn. Nhật Bản đóng băng nguồn vốn ODA sau khi Việt Nam đóng quân tại Campuchia vào năm 1978. Trong những năm đầu thập niên 1990, Nhật Bản cẩn thận hơn trong việc nối lại viện trợ cho đến khi mối quan hệ Mỹ-Việt Nam được cải thiện, theo Junichi Inada. Nhật Bản không muốn đi trước Hoa Kỳ, nhưng cũng công nhận rằng viện trợ cho Việt Nam sẽ không chỉ là về lợi ích kinh doanh của Nhật Bản, mà cả mang động cơ chính trị.

Là vì, nguồn vốn viện trợ không chính thức không chỉ là một công cụ kinh tế mà một công cụ chính sách đối ngoại phát triển trong những năm 1990 và đã được thực hiện rõ ràng trong điều lệ ODA của Nhật Điều lệ của Nhật Bản ODA, đầu tiên được thông qua vào năm 1992, sau đó được sửa đổi vào năm 2003, đã được bổ sung một lần nữa vào tháng Hai năm 2015. Trong đó cho biết: “Mục tiêu của ODA của Nhật Bản là để đóng góp cho hòa bình và phát triển của cộng đồng quốc tế, và nhờ đó giúp đảm bảo của Nhật Bản an ninh và thịnh vượng của riêng (nhấn mạnh). “

Theo điều lệ mới, Nhật Bản được phép gửi viện trợ cho quân đội nước ngoài để sử dụng cho mục đích phi quân sự. Nhưng, tùy thuộc vào cách điều lệ được đọc, Nhật Bản có thể vẫn biện minh tài sản “không tham chiến” là tài sản mang tính giám sát, bao gồm hệ thống radar, máy bay giám sát hàng hải,… Điều này có thể đặc biệt hữu ích đối với Philippines và Việt Nam.

Nhật Bản quan tâm đến những gì Trung Quốc không có, và tranh chấp ở Biển Đông cũng nằm trong phương diện đó. Đầu tiên, Nhật Bản lo ngại về tác động của căng thẳng ở Biển Đông đối với nền kinh tế của nó; thứ hai, Nhật Bản muốn giảm thiểu “Phần Lan hóa” (một khái niệm chính trị để chỉ ảnh hưởng của một cường quốc trên các chính sách đối nội, đối ngoại và quốc phòng của một quốc gia láng giềng nhỏ, bị cô lập, không phải là thành viên của một liên minh quân sự và không nhận được sự bảo vệ của các cường quốc. Khái niệm vẫn còn nhiều tranh cãi, mang nặng cảm tính này bắt nguồn từ chính sách của chính phủ Phần Lan trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh từ 1947 đến 1990 để đáp ứng với thực tế chính trị và bảo vệ được chủ quyền đất nước, hay vắn tắt là để tồn tại) đối với các quốc gia ven biển; thứ ba, Nhật Bản đang bị ám ảnh với việc giữ gìn luật pháp quốc tế và ngăn chặn Trung Quốc thiết lập một tiền lệ tiêu cực mà lực lượng nước này có thể sử dụng để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ (một tiền lệ mà có thể gây hậu quả đối với tranh chấp đảo giữa Nhật Bản với Trung Quốc ở vùng biển Hoa Đông); và thứ tư, Nhật Bản muốn lôi kéo Mỹ cam kết lớn hơn đối với an ninh của Nhật Bản bằng cách chứng minh rằng Nhật Bản sẵn sàng và có khả năng “chia sẻ gánh nặng” trong việc cung cấp an ninh cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Đối với tất cả những lý do này, hợp tác giữa Nhật Bản với Philippines và Việt Nam – thông qua ODA, chuyển giao thiết bị quốc phòng, và các phương tiện khác vẫn đang trong chiều hướng gia tăng.

Thái Thịnh (VNTB)

Shares

20 queries in 1.494 seconds.