Căn cứ Luật quản lý nợ công: Bộ Tài chính bác con số nợ công 66,4% GDP

Căn cứ Luật quản lý nợ công: Bộ Tài chính bác con số nợ công 66,4% GDP

Shares

Căn cứ vào Luật quản lý nợ công thì Bộ tài chính không sai khi phản bác, nhưng vấn đề là nằm ở, khái niệm của Luật hoàn toàn mù mờ và lệch chuẩn thế giới về cách tính nợ công. Ảnh: Bizlive

Sáng nay, hàng loạt trang báo chạy tít, cuối ngày hôm qua (2/10), “Bộ Tài chính bác con số nợ công 66,4% GDP” do Học viện Chính sách và Phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) công bố.

Theo Luật quản lý nợ công thì không sai

Ông Thứ trưởng Vũ Thị Mai cho biết, con số nợ công năm 2014 lên mức 66,4% GDP là do cách tính không đúng quy định của Luật Quản lý nợ công. Và ông diễn giải về cách tính nợ công theo Luật Việt Nam bao gồm: nợ Chính phủ, nợ Chính phủ bảo lãnh và nợ địa phương”, do đó, con số nợ công chỉ ở mức 59/6%. Đồng thời cũng nhấn mạnh thẩm quyền báo cáo thông tin nợ công này thuộc về Bộ Tài chính.

Việc lãnh đạo Bộ Tài chính bác bỏ con số nợ công 66,4% là cơ bản không sai nếu chiếu theo Luật Quản lý nợ công. Nhưng về độ chính xác của con số lại sai lệch, do ngay từ khái niệm của Luật đã cho thấy sự lệch pha trong khái niệm so với chuẩn của quốc tế.

Nhưng Luật lại sai từ khái niệm – cách tính

Cụ thể, Theo khoản 2 Điều 1 Luật quản lý nợ công (Luật số 29/2009/QH12), nợ công ở Việt Nam được quy định như sau: Nợ công được quy định trong Luật này bao gồm: a) Nợ chính phủ; b) Nợ được Chính phủ bảo lãnh; c) Nợ chính quyền địa phương”.

Tuy nhiên, khái niệm về nợ công phổ biến của quốc tế lại có phạm vi rộng hơn nhiều. Theo Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), nợ công không chỉ bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương mà còn bao gồm các nghĩa vụ nợ của ngân hàng trung ương, các đơn vị trực thuộc chính phủ (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước) ở tất cả các cấp chính quyền và một số khoản nợ ngầm định khác. Còn theo Ngân hàng thế giới (World Bank), thì nợ công còn phải bao gồm nợ của các tổ chức tự chủ bao gồm các DN tài chính và phi tài chính, ngân hàng thương mại và phát triển, công ty công ích… thỏa mãn một trong các điều kiện: (i) ngân sách của các tổ chức này phải được chính phủ phê duyệt; (ii) Chính phủ/Nhà nước sở hữu trên 50% hoặc có đại diện chiếm hơn 50% thành viên ban giám đốc; hoặc (iii) trong trường hợp các tổ chức này mất khả năng thanh toán, nhà nước phải chịu trách nhiệm về nợ của các tổ chức này. Như vậy, nếu Chính phủ có bất kỳ nghĩa vụ ngầm định nào đối với một khoản nợ thì theo tổ chức quốc tế này, khoản nợ đó có thể được xếp vào nợ công. Ngoài ra, UNCTAD tính cả nợ lương hưu trong khoản nợ Chính phủ vào nợ công, còn Việt Nam thì dường như “quên mất”.

Con số công bố một đường, nợ công đi một nẻo

Do đó mới có chuyện, trong khi nợ công Việt Nam trong mắt các chuyên gia và tổ chức tài chính độc lập là đã vượt qua giới hạn mà Quốc Hội Việt Nam cho phép (65% GDP), thì ngược lại, các quan chức chính phủ Việt Nam tiếp tục căn cứ vào sự sai lệch của Luật Quản lý nợ công để khẳng định “nợ công vẫn trong giới hạn an toàn”, thông qua số liệu được Bộ tài chính công bố. Cụ thể, tính đến cuối năm 2013, dư nợ công bằng 54,2% GDP và ước tính đến cuối năm 2014, dư nợ công khoảng 60,3% GDP, vẫn trong giới hạn Quốc hội cho phép (nợ công không quá 65% GDP).

Chính cách tính này cũng đồng thời vô hiệu Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 27/7/2012 về “Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030.” Trong đó đã đề ra mục tiêu, chỉ tiêu, định hướng và giải pháp nhằm huy động, phân bổ và sử dụng vốn vay hiệu quả, đảm bảo trong giới hạn các chỉ tiêu nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia. Bởi con số về nợ công không thực sự phản ánh đúng giới hạn chỉ tiêu nợ công thực sự như đề cập ở trên.

Trong một thông tin đáng lo ngại khác, cũng tại buổi họp báo thường kỳ quý III/2015, Bộ Tài chính cho biết, bội chi ngân sách 9 tháng đầu năm 2015 là hơn 140 ngàn tỷ đồng. Như vậy, so với 9 tháng đầu năm 2014 (bội chi 131.990 tỷ đồng). Như vậy, bội chi ngân sách thường xuyên tăng và có xu hướng tăng nhanh.

Cùng lúc đó, ông Đào Xuân Tuế – Phó Vụ trưởng Vụ Ngân sách Nhà nước cho biết, Bộ Tài chính đã hoàn tất việc vay 30.000 tỷ đồng từ Ngân hàng Nhà nước và chuyển vào kho bạc số tiền trên. Con số 30.000 tỷ đồng này được nhiều chuyên gia đánh giá là lột trần việc không thừa nhận ngân sách khó khăn của Bộ Tài chính với quan điểm, nếu đã không thiếu tiền thì vay nóng làm gì? Thu – chi có vấn đề nên dẫn đến việc đi vay, và trước đó, trong tháng 7, con số 100 ngàn tỷ đồng khiến TS Phạm Thế Anh, chuyên gia tài chính công của Đại học kinh tế quốc dân nhận xét “Hơn 100 ngàn tỷ đồng bội chi vừa công bố chỉ là con số ước 7 tháng. Cuối năm, tốc độ giải ngân sẽ cao hơn và thâm hụt có thể sẽ tăng hơn”. Thì lần này, 140 ngàn tỷ đồng của 9 tháng đầu năm sẽ đẩy nhanh sự thâm hụt và khó khăn trong thu – chi từ Bộ Tài chính lên cao, cũng như khiến mục tiêu giữ mức bội chi NSNN không vượt quá 5% như Nghị quyết của Quốc hội của Bộ Tài chính trở nên bất khả thi.

Như vậy, Bộ Tài chính bác con số nợ công lên mức 66,4% GDP không những không trấn an được tâm lý đến với nền tài chính quốc gia, mà ngược lại, càng gây lo ngại về sự bất lực và nguy cơ “chết cả nút” với tình trạng dựa vào Luật sai như hiện nay.

Hiểu một cách khác, thì sự đổ vỡ của nền tài chính quốc gia ngày gần kề vì tính cách rất riêng của Việt Nam và sự “thiêu thân” của quan chức chính phủ, nhà nước.

Hệ lụy do vỡ nợ

Chuyện vỡ nợ công của Việt Nam đang là một đe dọa hiển nhiên theo sự nhận xét của nhiều chuyên gia kinh tế. Nếu quốc gia vỡ nợ, tình trạng kinh tế sẽ suy sụp như sau:

1) Thị trường chứng khoán sẽ sụp đổ và điểm tín dụng xuống cấp thê thảm.

2) Mọi cơ chế tài chánh sẽ phải đóng cửa. Tiền mất giá, lạm phát leo thang, trái phiếu và đồng nội tệ sẽ chỉ còn là mớ giấy lộn. Tiền gởi trong ngân hàng sẽ “bốc hơi” vì mất giá trị.

3) Mọi chương trình do chính phủ tài trợ đều ngưng hoạt động (y tế, cảnh sát, an ninh, quốc phòng, giáo dục, cầu, đường, năng lượng v…v…). Quỹ hưu trí tan vỡ, nhà thương, trường học ngưng hoạt động.

4) Các thương vụ đóng cửa và nạn thất nghiệp tràn lan. Mọi mặt hàng khan hiếm kể cả nhu yếu phẩm. Giá cả tăng vọt. Đời sống của người dân sẽ bị đảo lộn hoàn toàn.

5) Nội loạn sẽ xảy ra và không có người để duy trì trật tự công cộng. Nạn đói và cướp bóc sẽ xảy ra. Hiện tượng vô kỷ luật, vô trật tự, vô tổ chức sẽ hoành hành.

6) Kẻ giàu có sẽ cuỗm tiền bạc quốc gia và trốn ra ngoại quốc.

Ts. Trần Diệu Chân

Lê Kiên (VNTB)

Đất Việt là nơi tự do bày tỏ ý kiến, không có chế độ kiểm duyệt. Rất mong nhận được ý kiến của độc giả.