Cà phê Trung Quốc có nguy cơ ngáng đường hàng Việt

Là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 thế giới nhưng hàng Việt xuất ngoại phần lớn là nhân thô giá trị thấp, trong khi đó, Trung Quốc, không chỉ phát triển diện tích cây mà còn hội tụ các nhà máy rang xay và sản xuất.

Cà phê Trung Quốc có nguy cơ ngáng đường hàng Việt

Shares

Cà phê Việt đa phần xuất khẩu nhân thô giá trị thấp.

Báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, khối lượng xuất khẩu cà phê bốn tháng đầu năm đạt 466.000 tấn với giá trị 970 triệu USD, lần lượt giảm 41% và 39% so cùng kỳ năm 2014. Các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê cho rằng, ngoài nhu cầu của các nhà rang xay lớn trên thế giới giảm thì có thể do thị trường tiềm năng Trung Quốc đang đẩy mạnh sản xuất cà phê với diện tích lớn.

Lo ngại về vấn đề này, ông Nguyễn Quang Bình, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn cà phê Chánh Tinh Anh cho hay, Trung Quốc nằm trong nhóm những thị trường nhập khẩu nhiều cà phê Việt Nam. Mỗi năm nước này nhập khẩu gần 30.000 tấn cà phê từ Việt Nam. Tuy nhiên, Trung Quốc lại đang đẩy mạnh phát triển cây cà phê để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng trong nước và xuất khẩu. Trong cuộc phỏng vấn báo chí gần đây, một quan chức thuộc Sở Nông nghiệp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) cho biết, diện tích cà phê của tỉnh này đã lên đến gần 125.000 ha (cách nay vài ba năm chỉ 40.000 ha), chiếm 85% diện tích cà phê của toàn Trung Quốc”.

Ông Bình cũng cho biết thêm, địa lý và thổ nhưỡng ở tỉnh Vân Nam thích hợp trồng cây cà phê cho chất lượng rất tốt. Mới mấy năm trước Trung Quốc vẫn là nước nhập khẩu. Từ năm ngoái họ đã xuất khẩu cà phê hạt và một ít cà phê hòa tan nhờ một số hãng rang xay lớn có nhà máy đầu tư trong lĩnh vực này tại Vân Nam. Cà phê Trung Quốc chủ yếu xuất khẩu sang Đức, Nhật, Hàn Quốc và Mỹ.

Cũng nhìn nhận thị trường sẽ gặp nhiều thách thức, ông Phạm Ngọc Bằng, Phó Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn liên doanh cà phê Đắk Man cho hay, chủng loại cà phê Trung Quốc trồng là Arabica có chất lượng, giá trị cao hơn loại Robusta (chiếm 90% diện tích trồng ở Việt Nam). Dù sản lượng không nhiều, chi phí cao vì trồng theo phương pháp dùng phân hữu cơ (organic) nhưng cà phê Trung Quốc luôn bán ra với mức giá rẻ hơn. Nguyên nhân chính là do nước này đang cố gắng tạo dựng thương hiệu cà phê để cạnh tranh lại các nước xuất khẩu lớn như Việt Nam, Brazil, Colombia.

Theo ông Bằng, minh chứng sự ảnh hưởng từ việc Trung Quốc phát triển mạnh cà phê tại tỉnh Vân Nam là những năm trước, cà phê xuất khẩu qua đường tiểu ngạch sang Trung Quốc lớn, có khi từ 50.000 tấn đến 100.000 tấn một năm. Thế nhưng, vài năm lại đây lượng mua bán tiểu ngạch hầu như không đáng kể.

Theo ý kiến của các chuyên gia, Trung Quốc đẩy mạnh trồng loại cây này chưa đáng ngại vì thương hiệu cà phê nước này còn mờ nhạt. Song, điều đáng lo ngại chính là sản phẩm cà phê xuất khẩu. Mang tiếng xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới sau Brazil nhưng Việt Nam chủ yếu xuất khẩu cà phê nhân thô giá trị thấp. Trong khi đó Trung Quốc đang trở thành nơi hội tụ của các nhà rang xay và sản xuất cà phê hòa tan hàng đầu thế giới. Các doanh nghiệp nước này đang liên kết với các tập đoàn thế giới để phát triển ngành cà phê rang xay, hòa tan có giá trị cao. Điều này sẽ làm tăng sự cạnh tranh đối với cà phê Việt Nam tại các thị trường nước ngoài.

Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia lĩnh vực này phân tích, một kilogam cà phê nhân thô nếu được chế biến làm cà phê hòa tan bán ra thị trường thì giá trị tăng lên gấp 4-5 lần. Nếu Việt Nam không xây dựng ngành cà phê theo hướng chế biến sản phẩm có giá trị gia tăng cao là rang xay, hòa tan thì mãi chỉ là nơi cung ứng nguyên liệu giá rẻ cho các tập đoàn cà phê rang xay thế giới, còn doanh nghiệp Trung Quốc sẽ chế biến xuất khẩu giá cao.

Để ngành cà phê Việt Nam phát triển bền vững, ông Nguyễn Hữu Thắng, Chủ tịch hội đồng thành viên Tổng Công ty thương mại Hà Nội (Hapro) cho rằng, phải nâng cao năng lực chế biến rang xay và sản xuất cà phê hòa tan. Nhà nước cần chọn những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt, đã và đang làm tốt thương hiệu cà phê rang xay, hòa tan. Những đơn vị này sẽ là những nhân tố để Nhà nước hỗ trợ về chính sách vốn vay, hỗ trợ đầu tư công nghệ làm sao giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm.

“Nhà nước cần chọn ra những thương hiệu lõi để hỗ trợ phát triển. Hiện nay ngành cà phê rang xay, hòa tan Việt Nam có những công ty có thương hiệu trên thị trường thế giới như Vinacafe Biên Hòa, Trung Nguyên… Các cơ quan quản lý cần tiếp cận những doanh nghiệp này xem họ cần gì, thiếu gì, muốn gì để từ đó có cơ chế hỗ trợ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển. Bên cạnh đó cần có chiến lược truyền thông kết nối với báo chí nhằm đẩy mạnh thông tin quảng bá thương hiệu cho cà phê Việt Nam”, ông Thắng nói.

Theo Ông Phạm Văn Dư, Phó Cục trưởng Cục trồng trọt, Bộ NN&PTNT:

Hiện nay cả nước có năm vùng sản xuất chính gồm: Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ và Trung du miền núi phía Bắc. Tổng diện tích trồng cà phê của năm vùng kể trên đến cuối năm 2014 là khoảng 641.000 ha. Trong đó diện tích vườn cà phê già cỗi chiếm tới 40%.

Cụ thể, có khoảng 86.000 ha cà phê trên 20 năm tuổi, chiếm 15% và khoảng 140.000 ha 15-20 năm tuổi, chiếm 25%. Trong những năm tới diện tích cà phê già cỗi trên cần được trồng thay thế. Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý nội dung phương án cho vay tái canh cà phê tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên giai đoạn 2014-2020, hỗ trợ người trồng tái canh cà phê về quy trình kỹ thuật, xúc tiến thương mại.

Theo Pháp luật TP HCM

Đất Việt là nơi tự do bày tỏ ý kiến, không có chế độ kiểm duyệt. Rất mong nhận được ý kiến của độc giả.